
Sách và CD Vô Thượng Niết Bàn
Kính Biếu
Quư
Phật Tử muốn thỉnh
Xin vui ḷng liên lạc
về:

Lê Sỹ Minh Tùng
3610-A Grandview St.
Gig Harbor, WA 98335
Cell:
(253)223-6024
Cùng tác giả đă phát hành hai bộ CD Phật pháp khác:


Mỗi bộ có 8 CD với
giọng đọc Nguyên Hà
Quư Phật Tử có thể nghe hoặc đọc tất cả những bộ sách hoặc CD Phật pháp nầy trên mạng:
www.NGUYENKINHDOANH.COM
Vô Thượng Niết Bàn
Lê Sỹ Minh Tùng
H́nh b́a: Nguyễn Minh
NT Printing, California.
Thiết kế Kỷ Thuật: Lê Minh
Thụy
Trần Thao: nhà in
PrintCraft, Seattle
Washington.
Tŕnh bày: Lê
Minh Phượng
Nhà in: Five
Star Printing
Garden Grove, California.
Copyright @2007 by Le Sy Minh Tung
All Right Reserved
Printed in the U.S.A

”Chư Phật ra đời chỉ v́ một đại sự nhân duyên là khai thị chúng
sinh ngộ nhập Phật tri kiến”.
Kinh Pháp Hoa.
“Bản lai diện mục, Niết Bàn diệu tâm”
Kinh Hoa
Nghiêm
” Đức Phật nói pháp nhiều vô lượng là v́ độ tất cả tâm phiền năo của chúng sinh, c̣n Ngài không có
tâm phiền năo nên không cần tất cả pháp. Sở dĩ Ngài nói như vậy là v́ Đức Phật đă sạch hết phiền năo nên không cần pháp, như người hết bệnh không cần thuốc”.
Lục Tổ Huệ Năng.
”Tất cả chúng sinh đều có đầy đủ trí tuệ của Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng, chấp trước che lấp nên không nhận ra. Nếu ĺa vọng tưởng th́ Nhất thiết Trí, Tự nhiên Trí, Vô ngại trí hiển bày”.
Kinh Hoa Nghiêm
Lời mở đầu
Từ ngàn xưa chư Phật ra
đời nhằm một mục đích là giáo hóa chúng sinh
với ḷng bi nguyện thắm thiết đều muốn
cho tất cả thoát ly mọi cảnh giới phiền năo
khổ đau và đồng hướng cảnh thanh
tịnh an vui giải thoát. Nhưng muốn thực hiện
cảnh giới thanh tịnh an vui giải thoát th́ cốt
yếu là chúng sinh phải được thanh tịnh
như trong kinh nói “Tùy Kỳ Tâm
Tịnh, Tắc Phật Độ Tịnh”.
Sở
dĩ thân Phật rực rỡ và cảnh Phật trang
nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng
của bản tâm thanh tịnh lưu xuất. Bản tâm
ấy, chúng sinh vốn sẵn có, cũng như chư
Phật, không hai không khác, nhưng từ lâu cứ mê
chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển
bày được đó thôi.
V́
thế lời nói đầu tiên sau khi Đức Thế
Tôn thành đạo dưới cội Bồ-đề là:”Thật kỳ diệu thay trong
tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tánh,
nhưng v́ bị vô minh nên họ không nhận ra điều
ấy”. Phật tánh là tính thanh tịnh bản nhiên
của tất cả chúng ta và tính thanh tịnh bản nhiên
nầy chính là hiện tượng “trùng trùng duyên khởi” nghĩa là sự ảnh
hưởng dây chuyền của một sự vật duyên
với tất cả sự vật và của tất cả
sự vật duyên với một sự vật hay là
một là tất cả và tất cả tức là một. Đức
Phật thuyết pháp tùy theo căn cơ của chúng sinh cho
nên giáo pháp của Phật có khi cao, khi thấp khác nhau,
nhưng cho dầu Phật có dạy tam quy, ngũ giới,
thập thiện, tứ diệu đế, thập nhị
nhân duyên hay dạy về pháp-tánh, pháp-tướng, tâm tính,
chân như, chân không, thật tánh và thật tướng th́
Đức Thế Tôn luôn luôn nhằm mục đích chỉ
bày cho chúng sinh chứng ngộ trí tuệ bát nhă cũng
như Ngài.
Con
người v́ bị mê vọng nên lầm tưởng thân
nầy là thật, thế gian vũ trụ là thật nên
sống trong điên đảo khổ đau. Cho nên
Phật dạy rằng:”Phàm
sở hữu tướng, giai thị hư vọng.
Nhược kiến chư tướng, phi tướng
tức kiến Như Lai” có nghĩa là phàm cái ǵ có h́nh
tướng th́ cái đó không thật, là giả dối và
tướng hư vọng tức là “nhơn không” c̣n
chẳng phải tướng mới là “pháp không”. Do đó
sắc thân có tướng nên nó là hư vọng c̣n pháp thân
không có tướng nên gọi là pháp không. V́ thế nếu
chúng sinh muốn thoát khỏi khổ ách để sống
trong an vui tự tại th́ phải biết rằng:”vạn pháp giai không” tức là
trên thế gian nầy không có cái ǵ là thật cả mà “tam
không” trong bát nhă chính là nền tảng để nhắc
nhở cho chúng sinh đạt được cứu cánh
nầy. Đó là khi học Phật pháp th́ không nên chấp có ta là “nhơn không” mà đă hiểu
đạo rồi cũng không nên chấp có pháp là “pháp
không” và tuy chúng ta không chấp nhơn, không chấp pháp
nhưng vẫn c̣n chấp không
nên cuối cùng cũng không chấp
cái không là “không không” th́
mới đúng với đạo lư “tam không” của nhà Phật. Thế gian vạn
vật hữu h́nh, hữu hoại cho nên thân tứ
đại giả huyễn tất phải hoàn trả
về tứ đại đất, nước, gió,
lửa, tro bụi ngay cả Đức Phật cũng an
nhiên tự tại xóa bỏ báo thân nhục thể
để ḥa cùng đại thể pháp thân chân
thường của chư Phật.
Phật
dạy lư chơn không
bởi v́ con người chấp
có. Cho nên người hiểu đạo th́ thấu lư không
mà lúc nào cũng tạo nhân lành, gây thêm thiện nghiệp c̣n
người phàm phu th́ chấp cái lư không nên xa lánh
điều lành và tạo lắm điều ác nghiệp
bởi v́ họ không biết rằng hữu vi là Dụng
của vô vi và vô vi chính là Thể của hữu vi vậy. Cũng
như những làn sóng nhấp nhô của đại dương,
đợt sóng nầy tan th́ đợt sóng khác đến
để tạo thành cái Dụng của nước mà tính
nước th́ muôn đời bất biến và đây chính
là Thể của nước vậy. Những làn sóng
thủy triều gào thét, lặn hụp lên xuống cũng
như những sự biến đổi của pháp
hữu vi và thể nước trầm lặng thanh
tịnh ở dưới ḷng đại dương
cũng như pháp vô vi mà thôi.
Đời
đang đắm ch́m trong biển khổ mênh mang mà bây
giờ nếu chúng ta chịu quay về sống với chân
lư “nhất như” th́ phiền năo tức Bồ-đề
và sanh tử tức Niết bàn. Do đó nếu chúng ta
biết buông xả và luôn giữ chánh niệm để
sống với cái thực tánh thanh tịnh của ḿnh ngỏ
hầu biến phiền năo khổ đau thành Bồ-đề
và sanh tử thành Niết bàn th́ ở đâu cũng có Bồ-đề
và ở đâu cũng có Niết bàn cả.
Phật
pháp là vô-thượng tối thâm vi-diệu, cao chẳng
cùng, sâu không chỗ tột, mà hễ đạo lư càng sâu th́
kinh điển lại càng khó diễn. Huống chi quyển
sách sách nầy là giáo lư tối thượng đại
thừa thật siêu thắng, ít có, khó gặp sẽ mang
lại cho con người những phương pháp hoàn toàn
cứu cánh. Mà đạo Phật là đạo chú trọng
thực hành chớ không phải lư thuyết suông cho nên càng
đọc, càng gẫm, càng thực hành th́ chúng ta sẽ
thấy đầy tính cách từ-bi vô ngại rộng
lớn bao la của tâm hồn lợi tha triệt
để. Tâm kinh sẽ hướng dẫn mọi
người đi đến mục đích cao cả, thoát
hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn
chấp trước, ích kỷ, nhỏ hẹp và hành vi
khổ lụy.
V́
thế chúng tôi tha thiết mong sao chư quư độc
giả cần xem và cần đọc cho được
nhiều lần để suy xét cho tột cùng và t́m
thấu cái ư vô vi huyền diệu ngỏ hầu noi theo chánh
pháp mà thực hành để mang lại cảnh an vui tự
tại cho ḿnh trong đời này và Niết bàn cho mai sau th́
mới thật là đọc kinh cầu lư.
Bản-nguyện
chúng tôi th́ lớn, nhưng năng lực c̣n có hạn do
đó cho dù chúng tôi đă cố gắng hết sức ḿnh
vẫn không sao tránh khỏi những thiển kiến sai
lầm, trông mong thập phương thiện tri thức
phê b́nh giúp đỡ cho chúng tôi có cơ hội báo ơn Tam-bảo trong muôn
một.
Washington mùa Xuân năm Đinh Hợi 2007
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Lê Sỹ Minh Tùng
Mục Lục
Ma-Ha Bát-Nhă
Ba-la-mật Tâm Kinh
37
Ngũ uẩn
giai không 41
Chữ
Không của
nhà Phật 52
Phá Chấp Ngă 77
Phá Chấp Pháp:
Của
Thế
Gian Pháp 84
Của
Xuất
Thế
gian Pháp: 92
Tứ
Diệu
Đế: 104
Thất
Bồ-đề 104
Bát Chánh Đạo 111
Giới Định Tuệ 151
Thập
Nhị
Nhân Duyên 166
Lục Độ Ba-la-mật 177
Tam Huệ
Học
và Trí Tuệ 205 Trí Tuệ và Tam Vô Lậu
Học 210
Kết
quả
của
sự
Phá Chấp
Pháp 223 Bát Nhă
để thành Phật 230 Tầm quan trọng
của
Bát-Nhă 232 Tâm Kinh kết
thúc bằng
một
câu chú:
235
Bản
dịch
Tâm Kinh sau cùng 237 Phần Tổng
Luận
của
Tâm Kinh 239
Chơn
đế và Tục đế 246
Thường
Lạc Ngă Tịnh
249
A-Lại-Da Duyên khởi 254
Chân Như Duyên khởi 255
Lục Đại
Duyên khởi 256
Pháp giới Duyên khởi 257
Tâm và Tánh 282
Vài nét về
Thiền 290
Y, Bát của
Phật 302
Ma cảnh 309
Tu Chỉ, Xa-Ma-tha 328
Tu Quán, Tam-Ma-Bát-Đề 329
Tu pháp Thiền
Na 330
Lục Tổ
Huệ Năng 332
Thuyết Nhị
Nguyên và
Chân Lư Nhất
Như 358
Bốn Chân Lư
Tứ Diệu Đế 379
Sinh diệt
Tứ
diệu
đế
382
Vô Sinh Tứ
diệu
đế 384
Vô Lượng
Tứ
diệu
đế 391
Vô Tác Tứ diệu
đế 392
Ngài Huyền
Trang 397
Vài nét về Kim
Cang Bát-Nhă Ba-la-mật
Kinh: 412
Lời kết 427
“Đuốc Tuệ Đưa Đường Về Chánh Giác”

Đạo Phật là con
đường để dẫn dắt chúng sinh
đến chỗ giải thoát giác ngộ. Chính Đức
Phật đă dạy rằng:”Ngă
dĩ thành Phật, nhữ đương thành Phật”
tức là Ta là Phật đă thành c̣n chúng sinh là Phật
sẽ thành. Lời Phật dạy là chân lư. Ư Phật
muốn nói là trong tất cả chúng ta ai ai cũng
đều có cái Phật tính thanh tịnh, nhưng v́ vô minh
che lấp nên cái Phật tính nầy bị lu mờ làm cho
con người luôn sống trong điên
đảo nên phải quay cuồng trong lục đạo
luân hồi
Con người do vô minh mà sanh ḷng tham dục
v́ thế Phật dạy chúng sinh muốn đạt
đến tŕnh độ vô thượng chánh đẳng
chánh giác, tức là thành Phật, th́ phải phá cho
được hai chướng ngại: đó là lư
chướng và sự chướng. Vô thượng chánh
đẳng chánh giác từ Phạn kinh là Anuttara-samyak-sambodhi mà
Hán tự dịch là A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề.
1) Lư chướng: có nghĩa là vô minh. Chính cái vô minh nầy đă dẫn dắt con người từ chỗ mê lầm nầy đến sự đắm mê khác. Vô minh chẳng khác nào một màn mây đen hút làm che đậy ánh sáng của mặt trời. Cái thật th́ con người cho là giả c̣n cái giả th́ tin là thật. Con người không thấy được chánh tri, chánh kiến th́ làm sao thấy được chân lư của nhân sinh vũ trụ. Chẳng hạn thuyết nhân quả là chân lư có nghĩa là ḿnh tạo nhân ǵ
th́ chính ḿnh phải nhận lấy cái quả ấy thế mà nhiều Phật tử lại tin rằng cho dầu ḿnh có tạo nghiệp ǵ đi nữa mà nếu cầu nguyện trời Phật th́ mọi chuyện cũng qua. Đây là tà kiến cũng bởi v́ vô minh mà ra. Nên nhớ rằng chính Đức Phật kiếp trước lỡ tạo ra khẩu nghiệp mà đến khi thành Phật rồi cũng phải trả cái quả nghiệp nầy bằng cách phải ăn lúa mạch dành để nuôi ngựa đến ba tháng mới xong. Tôn giả Mục Kiền Liên kiếp trước làm nghề chài lưới giết hại quá nhiều chúng sanh đến kiếp nầy mặc dù đă tu thành thánh mà c̣n phải trả cái nghiệp cũ bằng chính mạng sống của ḿnh th́ không một ai có thể giải sao cúng hạn hay cầu an cầu siêu cho ta cả. Vô minh là v́ không thấu hiểu chân lư mà dựa vào tà kiến để biến cuộc sống thêm điên đảo khổ đau. Chúng ta nên tư duy quán chiếu những chân lư của Phật th́ vô minh từ từ tan biến. Đó là văn như tư và tư như tu vậy.
2) Sự chướng: có nghĩa là phiền năo. Con người v́ ḷng thương ghét, tánh tham tật đố, chạy theo lục dục, thất t́nh mà tạo ra phiền năo rồi phải lăn lộn trong sanh tử luân hồi. Cái phiền năo nó đeo đuổi con người từ kiếp nầy sang kiếp khác. Mỗi khi lục căn tiếp xúc với lục trần th́ vọng tưởng dấy lên và ái dục chính là cội nguồn tạo ra phiền năo. Ái là nhân mà dục chính là quả của nó. Ái là thích c̣n dục là muốn chiếm hửu. Do đó cái ái mà không phá được th́ không bao giờ thoát ra khỏi lục đạo luân hồi. Trong Kinh Pháp Cú Đức Phật có dạy:” Đốn cây mà không đào gốc th́ nhánh nẩy sanh hoài” v́ thế nếu ái dục không trừ dứt th́ khổ năo sẽ theo ta măi măi. Thật vậy con người bắt đầu từ cái “thích” mới dẫn đến cái “muốn” hay nói một cách khác là từ “si” dẫn đến “tham” để tạo khổ cho ḿnh và cho người. Cho nên kinh Phật mới có câu:”Tùng tham dục khởi” là vậy. Như khi ta thấy một chiếc xe mới thật đẹp, một cái nhà thật sang hay một cái TV Plasma hạng bự làm chúng ta thích thú. Đây chính là Ái. Bởi quá thích nên chúng ta muốn chiếm hửu những cái đó. Vậy muốn có nghĩa là dục và là động lực chính để tạo ra nghiệp khổ cho con người. C̣n chính bản thân của chúng ta cũng vậy. Hễ có thân là có ái. Bởi v́ “ái thân” có nghĩa là yêu thương chính cái bản thân của ḿnh cho nên chúng ta muốn thân được ăn ngon, mặt đẹp và tệ hại hơn nữa chứng ta c̣n tranh công đoạt chức cho thân được hănh diện. V́ vậy Ái chính là cội gốc của luân hồi.
Vậy
tiến tŕnh từ phàm phu đến A La hán, Duyên Giác,
Bồ Tát và Phật như thế nào?
1) Phàm phu: Nếu chúng ta không phá nổi vô minh và không đoạn trừ được phiền năo có nghĩa là không giải được lư chướng và sự chướng th́ vĩnh viễn sẽ làm kiếp chúng sinh. Đời nầy qua th́ đời khác đến, trôi nổi măi măi trong lục đạo luân hồi.
2) A La Hán hay hàng Duyên Giác: Nếu chúng ta từ bỏ được tham dục có nghĩa là đoạn tất cả mọi phiến năo th́ sự chướng không c̣n. Đến đây th́ tất cả kiến hoặc và tư hoặc ngay cả vi tế hoặc cũng không c̣n trong quư vị nữa th́ chứng được quả vị A La Hán hay Bích Chi Phật của hàng Duyên Giác. Thanh Văn là nhiều người cùng tu với nhau và họ dùng chân lư Tứ Diệu Đế để trừ phiền năo mà đạt được Niết bàn. C̣n Duyên Giác là người tu hành đơn độc có khi nơi rừng cao núi thẳm hoặc chốn thanh tịnh nào. Khi thấy cảnh lá rụng, cây héo lá vàng mà nghĩ đến thân họ cũng vô thường như vậy nên phát tâm tu luyện. Họ dùng chân lư thập nhị Nhân Duyên làm căn bản tu hành để trừ phiền năo. Họ nhận thấy rằng khi đủ nhân duyên th́ thân nầy do đất, nước, gió, lửa tạo thành, đến khi hết duyên th́ thân tan ră. V́ chán thân vô thường như thế nên họ quyết tâm tu hành cho không c̣n ái dục và đoạn được mọi phiền năo để trở thành Bích Chi Phật.
3) Bồ Tát: Trong chúng ta có hai tướng đó là tướng sanh diệt và tướng bất sanh diệt. Tướng sanh diệt th́ gọi là tướng thân sanh tử và tướng bất sanh diệt chính là pháp thân của chúng ta. Các vị A La Hán hay Bích Chi Phật chỉ thấy được tướng thân sanh tử mà không thấy được pháp thân của họ. V́ thấy được tướng sanh diệt là đáng chán đáng ghét, không mến không yêu và chính là cội nguồn của đau khổ nên họ dứt được sự chướng. Họ dứt được sự chướng mà không thấy được pháp thân cho nên lư chướng vẫn c̣n. Riêng hàng Bồ Tát th́ họ chẳng những đoạn được mọi phiền năo mà họ c̣n thấy được một phần pháp thân của họ có nghĩa là họ phá được một phần vô minh. Do đó nếu chúng ta thấy được một phần pháp thân của ḿnh th́ thành Bồ Tát. Càng phá được nhiều vô minh th́ họ càng chứng được quả vị cao của Bồ tát.
4) Phật: Người nào đoạn được hoàn toàn sự chướng và lư chướng có nghĩa là họ không c̣n phiền năo, vô minh và tâm thường trụ Niết bàn th́ người đó là Phật.
Phật pháp th́ cao siêu và vượt ra ngoài ngôn từ và suy nghĩ nhưng v́ tŕnh độ của chúng sinh có sai khác nên có các quả Thánh hiền sai khác chớ không phải Phật pháp có sai khác. Ví dụ như ba con thú qua sông. Con sông là Phật pháp, không cạn không sâu. Con dê nhỏ th́ lội ngập đầu, ví như hàng Tiểu thừa. Con nai lớn hơn th́ lội ngập cổ, ví như hàng Trung thừa, Duyên giác. C̣n con voi th́ lội ngập ống chân, ví như hạng Đại thừa.
Như thế th́ tùy theo khả năng đoạn trừ phiền năo và vô minh của chúng sinh mà Phật giáo được chia làm ngũ thừa: nhân thừa, thiên thừa, tiểu thừa, duyên giác và cuối cùng là đại thừa tức là Bồ tát hay Phật. Tuy nói là ngũ thừa nhưng đây chỉ là phương tiện để chúng sinh dựa theo đó làm nền tảng tu hành mà thôi.
1) Nhân thừa: Dựa theo Phật giáo th́ chúng sinh chỉ cần thọ tam quy và tŕ ngũ giới th́ bảo đảm sẽ trở lại làm người. Nhưng v́ c̣n nằm trong tam giới nên con người lúc nào cũng bị lửa phiền năo thiêu đốt và mây vô minh che lấp nên đau khổ gắn liền với con người triền miên măi măi. Đối với họ hạnh phúc nhất thời tạm bợ chỉ là những dục lạc của thế gian tuy bên ngoài được che lấp bằng những màu sắc rực rỡ huy hoàng nhưng thực ra bên trong chất chứa toàn đau khổ tang thương.
2) Thiên thừa: Nếu chúng sinh thấy rằng dục lạc của thế gian không bền chắc, đáng chán và là cội nguồn tạo ra nghiệp để chịu quả khổ về sau nên họ bỏ ác làm thiện. Chỉ cần tu theo thập thiện th́ sẽ được sanh lên cơi trời để hưởng phước lạc. Tuy thọ mạng ở cơi trời rất dài nhưng nó vẫn c̣n nằm trong lục đạo luân hồi v́ thế nếu hưởng quá nhiều phước lạc sanh ra mê th́ dễ dàng bị đọa. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn kể rằng:” Có một vị vua Chuyển Luân Thánh Vương tên là Đảnh Sanh. V́ nhà vua có đủ phước đức nên muốn ǵ được nấy. Một ngày đó ông nguyện nếu như tôi thật là Chuyển Luân Thánh Vương th́ cho mưa bảy ngày, bảy đêm toàn là vàng bạc, châu báu để dân chúng tôi được sung túc giàu sang. Thế là trời mưa làm dân ông giàu có. Thấy lời nguyện đầu thành công, ông liền ước chinh phục các nước liên bang. Rồi ông cũng toại nguyện. Những nước láng giềng tất cả đều qui hàng ông. Sau đó ông nguyện được lên chơi cơi trời Đế Thích. Lúc ấy trời Đế Thích đang ngồi trong pháp đường nói chuyện với quần chúng, thấy ông lên liền nhường nữa ṭa cho ông ngồi. Thấy cơi trời Đế Thích đẹp quá, ông liền nguyện:” Ngồi nữa ṭa th́ rất thích nhưng chưa hoàn toàn thỏa chí, chi bằng xô ông Đế Thích nầy xuống để chiếm toàn ṭa th́ ḿnh sẽ sung sướng biết bao”. Niệm xấu vừa xuất hiện xong th́ ông liền bị rớt ngă xuống cung điện của ông ở cơi Ta Bà. Sau đó trước khi ông hấp hối sắp chết, quần thần hỏi:” Bệ hạ có điều ǵ trăn trối không?” Ông buồn bả đáp:”Ta chỉ có một điều cuối cùng muốn nói là: “Vua Đảnh Sanh v́ ḷng tham vô đáy nên mới bị cái họa ngày nay”.
Khi nói về cơi trời th́ kinh Phật có câu:”Cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng, vô lượng chư thiên đại chúng câu” có nghĩa là ngoài vua trời Đế Thích th́ trên cơi thiên có rất nhiều cơi trời khác. Ngoài cung trời Đạo Lợi mà ngày xưa Đức Phật lên đó để thuyết pháp cho Hoàng Hậu Ma Da c̣n có 4 cơi Dục giới là Dạ Ma, Đầu Xuất, Hóa Lạc và Tha Hóa cộng thêm 18 cơi trời Sắc giới và 4 cơi Vô Sắc giới. Như vậy có tất cả 26 cơi trời bắt đầu từ 2 cơi trời Dục giới ở núi Tu Di và 26 cơi trời ở trên Hư Không. Hiện nay Bồ Tát Di Lặc hiện đang ở trên cơi trời Đầu Xuất.
3) Tiểu thừa: Khi đă đoạn được mọi phiền năo để tâm hoàn toàn thanh tịnh th́ đạt đến cảnh của tiểu thừa. Các vị A La Hán đă đoạn trừ xong cái mầm sanh tử nên thoát ra khỏi tam giới và vĩnh viễn không bị chi phối trong lục đạo luân hồi. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy:”Người tu phải biết phản quan tự kỷ, tức là phải nh́n lại ḿnh”. Đây là chủ yếu của đạo Phật có nghĩa là tu phải phát khởi từ tự tâm của mỗi người để đạt được tâm thanh tịnh bởi v́ nếu tâm không thanh tịnh th́ vô minh, vọng tưởng sẽ dấy lên. Do đó trong Kinh Lăng Nghiêm Phật lại dạy rằng:”Chơn như bất thủ tự tánh hốt nhiên bất niệm vô minh khởi” có nghĩa là chân như hay chơn tâm mà không giữ tự tánh th́ nó sẽ sanh ra vô minh.
Khi đă chứng quả A La Hán th́ kinh Phật dạy rằng:”Giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức” có nghĩa là những bậc A La hán có đủ những đức tính như sau:
- Ứng cúng: Ứng có nghĩa là viễn ly, xa ĺa phiền năo để đem lại an lạc cho ḿnh và độ cho người. C̣n cúng là thọ dụng sự cúng dường. Nói một cách khác là khi chứng được quả A La hán th́ họ đem đạo lư và trí tuệ đă chứng mà cung cấp, cúng dường cho tất cả mọi người. Đây là quả Khất Sĩ.
- Sát tặc: có nghĩa là giết hết giặc phiền năo. Đây là quả Phá Ác.
- Vô Minh: có nghĩa là không c̣n sinh tử nữa. Họ thật sự đă thoát ra khỏi tam giới. Đây là quả Bố Ma.
Ngoài ra quả A La Hán là quả thứ tư của hàng Thanh Văn. Đó là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và cuối cùng là A La Hán. Thanh Văn có nghĩa là nghe tiếng thuyết pháp của Phật rồi từ đó tư duy quán chiếu tu tập mà thành đạo.
4) Trung thừa hay hàng Duyên giác: Khi các vị Bích Chi Phật đă tu luyện theo pháp thập nhị Nhân Duyên để ĺa xa được phiền năo và tâm hoàn toàn thanh tịnh th́ họ trở thành Bích Chi Phật. C̣n các Ngài trong hàng Thanh Văn thấy Khổ Đế và Tập Đế là mầm của đau khổ nên dùng Đạo Đế để tiêu trừ nó mà đạt được Niết Bàn tức là Diệt Đế. Dứt được sanh tử để đạt được Niết Bàn có nghĩa là các Ngài chỉ mới trừ được sự chướng, tức là dứt phiền năo mà thôi.
5) Đại thừa: Nếu đoạn được lư chướng và sự chướng th́ vào được cảnh giới của Bồ Tát. Bồ Tát cũng được gọi là từng phần giác có nghĩa là nếu họ phá được một phần vô minh th́ chính họ đă giác ngộ một phần pháp thân. Họ phải trải qua 55 quả vị của Bồ tát bắt đầu từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa và sau cùng chứng quả Đẳng giác tức là Phật. Khi Bồ Tát đoạn được hoàn toàn sự chướng và lư chướng có nghĩa là họ đă đoạn mọi phiền năo và phá tất cả mọi vô minh th́ họ vào được “Viên giác Vi diệu của Như Lai có đầy đủ Bồ-đề và Niết Bàn” tức là Phật. Phật được gọi là Giác giả và có 3 thân là Pháp Thân, Báo thân và Ứng Thân.
-Pháp Thân chính là tự tánh thân và là pháp giới chơn tịnh của các Đức Như Lai lan tỏa trong khắp cả không gian làm sở y b́nh đẳng cho Báo thân và Ứng thân. Pháp thân là thể tánh thanh tịnh có đầy đủ công đức, thật tánh b́nh đẳng của tất cả các pháp. Thọ mệnh của Pháp thân không có lúc bắt đầu, tức là vô thỉ, và không có lúc cùng tận, tức là vô chung. Đại Nhật Như Lai hay Tỳ Lô Giá Na chính là Pháp thân của Phật. Do đó Chư Phật ngày nay thường trụ trong tâm của tất cả chúng sinh và hiện hữu vĩnh hằng ở khắp mọi nơi chính là Pháp thân Tỳ Lô Giá Na mà thôi. V́ thế nếu chúng sinh cảm nhận Pháp thân Phật th́ ở đâu cũng có Phật và bất cứ lúc nào cũng có Phật trong tâm của chúng ta. Rất nhiều người lầm tưởng rằng chỉ ở trong chùa hay trên bàn thờ mới có Phật. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là một ứng thân của Phật để độ chúng sinh 2500 năm về trước mà chúng ta thờ phượng là để kính trọng Đức Thế Tôn là vị thầy cao cả đă dùng chánh pháp để d́u dắt chúng sanh sang bờ giác ngộ. Ngày nay trong không gian vô tận và thế giới vô biên chỉ có Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na của Phật mà thôi.
-Báo Thân hay Thọ dụng thân là thân của các Như Lai do thành tựu công đức tu hành trải qua ba đại kiếp mà được.
-Ứng Thân hay Biến hóa Thân là thân chư Phật do trí thành sở tác mà biến hóa ra thành vô lượng thân, ứng theo căc cơ của chúng sinh mà hóa độ. Chẳng hạn như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Ứng thân của Phật trong cơi Ta Bà nầy.
Trong mỗi vị Phật phải có tất cả 10 trí lực của Như Lai, đó là: Như Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự Trượng-phu, Thiên-Nhơn-Sư, Thế Tôn và Phật.
-Như Lai (Itipi so Bhagava): là bản thể của tự tánh cùng khắp không gian, bất khứ bất lai và đúng như bổn lai nên gọi là Như Lai. Tự thể Pháp thân chẳng động chẳng dời là “Như”. Trí quang chiếu khắp bi tâm độ sanh là “Lai”. Toàn thể như như bất động, tùy duyên đến hóa độ trong muôn loài, đến trong muôn loài mà vẫn như như bất động nên gọi là Như Lai.
-Ứng cúng (Araham): Pháp thế gian đều gọi là oan gia cho nên Đức Như Lai ứng hiện dùng trí tuệ để phá hoại bốn thứ ma nên gọi là ứng. Ứng là xa ĺa phiền năo. Chư Phật v́ chúng sinh mà thọ những khổ năo nhưng mà thường vui nên gọi là ứng. Sau cùng ứng cúng là xứng đáng hưởng sự cúng dường của người, trời cùng Hiền Thánh.
-Chánh-Biến-Tri (Sammasambuddho): là cái biết cùng khắp không gian và thời gian chẳng có năng sở đối đăi, tức là cái biết bản thể Phật tánh. Nếu cái biết bản thể Phật tánh cùng khắp thời gian th́ chẳng sanh diệt nên gọi là Niết Bàn. C̣n khắp không gian th́ chẳng khứ lai nên gọi là Như Lai. Nói một cách khác Chánh biến tri là trí Phật thấu biết tất cả hoàn toàn như thật.
-Minh-Hạnh-Túc (Vijjacarana sampanno): là có trí tuệ và công hạnh viên măn tức là người đă hoàn măn trí tuệ và công hạnh tu tập.
-Thiện-Thệ (Sugato): là người hoàn tất việc của ḿnh một cách thiện hảo, tức là tự giác và cũng là người đă làm xong tất cả mọi việc từ giác tha đến giác hạnh viên măn đến thế gian độ sanh mà không bị thế gian làm ô nhiễm.
-Thế-Gian-Giải (Lokavidu): là trí hiểu biết thông suốt cả mọi sự vật trong thế gian và xuất thế gian.
-Vô-Thượng-Sĩ (Anuttaro): là không có một người nào cao cả hơn Ngài về những đức tính đặc biệt cũng không có ai sánh bằng Ngài. Nói một cách khác Vô Thượng Sĩ là không c̣n ai trên nữa.
-Điều-Ngự Trượng-Phu (Puridomma Saràthi): có đủ những tài năng khôn khéo điều khiển và ngự phục mọi loài chúng sinh vào con đường thiện. V́ thế Điều ngự trượng phu là đấng có đầy đủ đức tướng tài năng để điều ḥa những chúng sinh nhu thuận và ngự phục những chúng sinh can cường.
-Thiên-Nhơn-Sư (Satthà-devamanussànàm): là đấng đạo Sư của tất cả trời và người.
-Thế Tôn (Bhagavati): là đấng được thế gian tôn trọng.
-Phật (Bhuddho): là bậc hoàn toàn giác ngộ hay c̣n được gọi là giác giả. Đức Phật có đủ 10 đức hiệu ở trên và là đấng tôn quư cao thượng nhất trong thế gian và xuất thế gian.
-Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác: là chỗ giác ngộ của Phật không c̣n ai hơn nữa nên gọi là Vô thượng. Xa ĺa tà vọng th́ gọi là Chánh và ngộ được chân lư nên gọi là Giác. Phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác là phát tâm mong cầu có trí giác vô thượng, quả Phật cứu cánh.
Dựa theo pháp quán nầy th́ chúng ta phải hiểu rằng trong con người của Đức Phật không có con người khổ hạnh, cũng không có con người hiền thiện già nua để phải chịu quay cuồng trong lẽ vô thường của tạo hóa, đó là thành, trụ, hoại, không. Không những thế mà Đức Phật cũng không phải là Ngài Cù Đàm, một con người không phải là một người duy lư và dĩ nhiên cũng không không phải là một xuất thân của vị Thiên Chủ đă chứng đắc Niết Bàn. Mà thật ra Đức Phật chính là sự tổng thể của tất cả những đức tính vi diệu trên cũng như một giọt nước cam không thể nào là toàn thể những ǵ chứa trong trái cam chưa bóc vỏ.
Phật Nhiên Đăng (Dipankara) là vị Phật đă thọ kư cho Đức Thích Ca khi đó chỉ là một nhà tu khổ hạnh trẻ tuổi có tên là Thiên Tuệ (Sumedha) sau nầy sẽ trở thành Phật với danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Một ngày nọ, Phật Nhiên Đăng hiện ra thân tướng một tỳ kheo già đi từ xa đến và trên đường đi Ngài thấy có một vũng lầy chắn ngang. Lúc đó Đức Thích Ca đang hành Bồ-tát đạo và phát tâm giúp đỡ mọi chúng sinh nên khi thấy vị tỳ kheo già không đi qua vũng lầy được bèn lấy thân nằm ngay chỗ có bùn nước đặng lót đường cho vị tỳ kheo già đi qua. Tuy nhiên, phía trước vẫn c̣n một đoạn nữa mà thân của tỳ kheo Thiên Tuệ chưa đủ để che kín nên Ngài bèn lấy tóc xơa ra và đắp vào chỗ có nước và bùn rồi sau đó mới mời vị tỳ kheo già đi qua. Vị tỳ kheo già nể ḷng mà bước qua. Lúc ấy tỳ kheo Thiên Tuệ tu khổ hạnh đầu đà nên không cắt tóc. Sau khi bước lên ḿnh tỳ kheo Thiên Tuệ, Phật Nhiên Đăng bèn lấy tay xoa đầu Đức Thích Ca và nói rằng:”Ông cũng như vậy, tôi cũng như vậy, ông ở đời sau sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Nếu tính từ cổ-Phật Thích Ca tới Bảo Tích Như Lai th́ trong thời gian nầy có tất cả bảy mươi lăm ngàn vị Phật và được gọi là A-tăng-kỳ kiếp thứ nhất. Từ Bảo Tích Như Lai đến Nhiên Đăng Như Lai có bảy mươi sáu ngàn vị Phật và khoảng thời gian nầy gọi là A-tăng-kỳ kiếp thứ hai. Từ Nhiên Đăng Như Lai đến Thánh Quan Như Lai có bảy mươi bảy ngàn vị Phật và khoảng thời gian nầy gọi là A-tăng-kỳ kiếp thứ ba. Chính Đức Thích Ca đă tu trong ba đại kiếp A-tăng-kỳ mới thành Phật.
Con người bị lửa phiền năo thiêu đốt và mây vô minh che lấp nên phải lặn hụp trong triền miên đau khổ. Chân lư của Đức Phật chính là nước cam lồ để dập tắt tất cả lửa phiền năo và cũng chính là vầng hào quang sáng chói để xé tan đám mây vô minh hắc ám ở trong tâm khảm của chúng ta. Phật pháp sẽ dẫn dắt chúng sinh ra khỏi biển phiền năo trầm luân để biến cuộc đời đau khổ nầy thành cảnh an vui tự tại. Một khi phiền năo không c̣n dính liền với con người th́ Niết Bàn sẽ xuất hiện và đây chính thật là cơi Cực Lạc trong trần thế vậy.
Thật vậy có giải thoát mới đến được chỗ giác ngộ. Thế th́ nếu con người muốn giải thoát ra khỏi tam giới hay lục đạo luân hồi để không c̣n vướng bận trong ṿng sinh tử th́ họ phải giải thoát hoàn toàn ra khỏi mọi hệ lụy của phiền năo khổ đau.
Nhưng tại sao con
người có phiền năo khổ đau?
Phiền năo khổ đau đă gắn liền với chúng ta từ lúc con người có mặt trên thế gian nầy. Hễ có nhân loại là có khổ đau. Không phải Đức Phật Thích Ca là người đă tạo ra thế gian và dĩ nhiên Ngài cũng không phải là người đầu tiên nhận biết đời là biển khổ. Nhưng chính Đức Phật là người đầu tiên đă khai thị tại sao con người dính liền với phiền năo khổ đau. Đức Phật đă thấy biết sự vận chuyển tuần hoàn của nhân sinh vũ trụ và đây chính là cứu cánh của chân lư tối thượng để đưa con người từ bờ mê đến bến giác. Toàn bộ chân lư của Đức Phật không ngoài mục đích hướng dẫn con người đi đúng với sự vận chuyển của nhân sinh vũ trụ mà thôi. Cái mà Ngài gọi là:”Tùy thuận chân lư”. Do đó nếu chúng sinh sống tùy thuận với chân lư th́ sẽ không c̣n đau khổ, ngược lại nếu con người bị vô minh che lấp và sống ngược lại sự sinh tồn của vũ trụ th́ phiền năo khổ đau chắc chắn họ sẽ đeo mang.
Vậy thế nào là tùy thuận chân lư?
Đă là con người th́ không một ai thoát khỏi cảnh sinh, lăo, bịnh, tử. Có ai trẻ măi mà không già? hoặc có người nào sống đời mà không chết? Như thế th́ nếu chúng ta biết con người sanh ra rồi phải lớn lên, mà hễ có thân là có bệnh. Cuối cùng già nua rồi cũng phải chết. Một khi chúng ta hiểu thấu và không phàn nàn mỗi khi có bịnh, không phàn nàn hay đau khổ khi thấy ḿnh mỗi ngày một già đi và không sợ hăi hay đau khổ khi sắp chết th́ chúng ta đang sống tùy thuận chân lư vậy. Chẳng hạn như có người chèo thuyền ngược ḍng sông th́ dĩ nhiên người đó phải vất vả, khổ nhọc c̣n người chèo thuyền xuôi theo ḍng nước th́ nhẹ nhàng thanh thoát. Tùy theo ḍng nước th́ an vui c̣n ngược chiều nước th́ cực nhọc khổ đau. Cuộc sống con người th́ cũng thế đă biết đời là vô thường, tâm là vô ngă mà cứ nhắm mắt chạy theo dục vọng để chuốc lấy khổ đau c̣n kẻ thấu hiểu lư không th́ họ luôn sống trong an vui tự tại.
Triết lư của Đức Phật được chia làm hai phần là thế gian và xuất thế gian.
1) Pháp thế gian: c̣n được gọi là pháp sinh diệt hay pháp hữu vi. Pháp thế gian gồm có vô thường, đau khổ (vô lạc), vô ngă và bất tịnh (vô tịnh).
2) Pháp xuất thế gian: c̣n được gọi là pháp bất sinh diệt hay pháp vô vi. Đó là thường, lạc, ngă, tịnh hoặc là chơn thường, chơn lạc, chơn ngă và chơn tịnh.
Pháp
Thế Gian
Theo Phật giáo th́ sự cấu tạo và sinh tồn của tất cả vạn pháp trong vũ trụ là do tự kỷ nhân quả mà thành chớ không phải là do một đấng thiêng liêng nào tạo ra hay là do một phép mầu nhiệm nào kết cấu cả. Cái quả hiện tại là do cái nhân ở đời trước chuyển đến và cái nhân ở đời trước là do cái quả ở những đời trước nữa. Tiến tŕnh nầy tiếp tục và cứ tiếp tục đi ngược trở lên măi. Nhân nầy quả nọ, không cùng không tận. Do đó vũ trụ đối với Phật giáo không có cái ban đầu tức là vô thỉ. Trong kinh Samyutta, Phật dạy rằng:
“Không thể lường
được đâu là khởi thủy của ṿng luân
hồi và từ đâu chúng sanh bắt đầu kiếp
sống. Có điều chắc chắn là họ đă
bị trầm luân sinh tử v́ vô minh và ái dục”.
Con người có thói quen là dựa theo sự nhận xét giới hạn của ḿnh mà khẳng định là cái ǵ trên thế gian nầy cũng có sự bắt đầu. Chẳng hạn như khi thấy một chén cơm trên bàn th́ họ nghĩ rằng cơm th́ do gạo và nước tạo thành. Thế th́ gạo và nước là cái bắt đầu. Nhưng họ quên rằng trước khi có gạo th́ phải gieo lúa, bón phân…và trước khi gieo lúa th́ cần phải có hạt giống…tiến tŕnh nầy nối tiếp măi không ngừng. Do đó có cái nào là bắt đầu đâu? Cái mà họ nghĩ là bắt đầu th́ chỉ là cái quả của vô số nhân từ trước tạo thành. Cũng như con gà và trứng gà th́ cái nào có trước?
Một nguyên nhân khác làm con người tin rằng vạn pháp trong vũ trụ có một sự bắt đầu là do họ có ư niệm sai lầm về quan niệm “Có” và “Không". Chẳng hạn như gần nhà chúng ta có một lô đất trống, khoảng sáu, bảy tháng sau có người cất lên đó một căn nhà nguy nga tráng lệ. Thấy thế th́ họ lư luận rằng trước kia đất hoang là Không, bây giờ xây nhà trên đó là Có. Hay là trước “Không” sau “Có” th́ “cái có” bao giờ cũng đi sau “cái không”. Thế th́ cái bắt đầu là cái Không. Nhưng mảnh đất không đâu phải là không có v́ nó không có nhà chứ không phải là Không. Nếu là Không th́ làm sao mà xây nhà trên đó được? Khi có nhà th́ chưa chắc là Có bởi v́ cái nhà chính nó không có tự tánh nên mặc dầu là Có nhưng thực chất của nó chính là Không. Bởi v́ nếu đem phân tách gạch, ngói, cây, gỗ th́ cái nhà đâu c̣n chứ không phải đợi đến khi cái nhà mục nát mới gọi là không. V́ vậy từ “cái không” thành ra “cái có” và cũng từ “cái có” trở lại với “cái không”. Vậy cái nào là cái bắt đầu? V́ thế khi Đức Phật thuyết về Luật Nhân Quả là Ngài muốn nói đến sự biến hóa vô cùng vô tận của vũ trụ dựa theo yếu tố thời gian. Bởi v́ một khi chúng ta gieo nhân th́ cái quả chắc chắn sẽ xuất hiện. Vấn đề là cái quả xảy ra sớm hay chậm mà thôi. V́ thế cổ nhân có câu:
Thiện ác đáo đầu
chung hữu báo
Chỉ tranh lai táo dữ lai tŕ
Có nghĩa là:
Việc
lành hay việc dữ đều có quả báo
Chỉ khác nhau là đến sớm hay
muộn mà thôi.
Trong phần Tứ Diệu đế, chúng ta thấy khổ đế là quả mà nhân của nó chính là tập đế. Chính tư hoặc và kiến hoặc là những cái gốc gây ra bao sự phiền năo khổ đau cho con người để phải chịu sinh tử luân hồi. C̣n diệt đế, tức là Niết Bàn là quả và đạo đế chính là nhân của chiều giải thoát. Nhưng chân lư Tứ Diệu Đế là pháp hữu vi có nghĩa là pháp sinh diệt th́ chính nó không phải là liễu nghĩa kinh. V́ thế người tu theo pháp Tứ Diệu Đế không bao giờ thành Phật được mà chỉ đạt quả vị tối đa là A La Hán. A La hán là chỉ đoạn được phiền năo trong tâm mà thôi. Mà đoạn phiền năo tức là chứng được Niết Bàn. Do đó Niết Bàn là liễu nhân chớ không phải là tác nhân. Có nghĩa là Niết Bàn tự nó hiển hiện trong tâm tức là pháp vô vi chớ không phải do chúng ta tạo tác tức là pháp hữu vi. Thế th́ tại sao chúng ta tu theo pháp hữu vi, tức là tu theo Tứ Diệu Đế, mà kết quả lại nằm trong pháp vô vi, tức là Niết Bàn? Nói một cách khác nhân là hữu vi mà quả lại là vô vi? Mặc dầu chúng ta dựa theo 37 phẩm của phần đạo đế để tu tập tức là chúng ta dựa theo pháp hữu vi để quán chiếu sự hư huyễn của vũ trụ, nhưng nhờ công phu tu luyện từ trong nội tâm, Niết Bàn mới xuất hiện. Thế th́ khi chứng hay cảm nhận sự thanh tịnh của tự tánh chính là pháp vô vi. V́ là vô vi nên Niết Bàn không có h́nh tướng, màu sắc, trọng lượng và kích thước…Đây chính là cái quả của sự thanh tịnh giác ngộ mà cái nhân là đạo đế. Do đó nếu chúng ta biết diệt trừ Tham-Sân-Si, ái dục để tâm được thanh tịnh th́ đâu đâu cũng có Niết Bàn và lúc nào cũng có được Niết Bàn.
Nhưng nếu chúng ta thấy được cái quả là pháp hữu vi, thế th́ cái ǵ là cái nhân của nó? Chẳng hạn như khi ngắm một đóa hoa vừa thơm vừa đẹp th́ chúng ta tự hỏi đóa hoa nầy từ đâu mà có? Thấy đóa hoa tức là pháp hữu vi, nhưng đóa hoa có được là do hiện tượng duyên sanh của bản thể chân như tạo thành. Bản thể chân như là bản thể không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm của vạn pháp trong vũ trụ nầy. Như vậy bản thể chân như chính là “cái không” và cũng chính cái không lại sinh ra tất cả, tức là “cái có”. V́ nhận thức được sự hư giả của pháp hữu vi, nên cổ nhân có bài kệ rằng:
Nhất
thiết hữu vi pháp,
Như
mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như
lộ diệc như điện,
Ưng
tác như thị quán.
Dịch là
Tất
cả pháp hữu vi,
Như
mộng, như huyễn, như bọt, như
bóng,
Như
sương, như điện chớp,
Nên
quán tưởng như thế.
Chữ “tất cả” tức là
nhất thiết th́ bao gồm cả trời, người,
thần, súc sanh,, ngạ quỷ và địa ngục.
Ngũ
uẩn: sắc,
thọ, tưởng, hành, thức là pháp hữu vi. Thân
tứ đại: đất, nước, gió, lửa là pháp
hữu vi. Sáu căn:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư là pháp hữu vi. Sáu trần: sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp cũng là pháp hữu vi. Nói chúng
tất cả những ǵ chúng ta nhận biệt
được qua ngũ quan đều là pháp hữu vi
cả.
Mộng là cơi mơ. Đời
người là mộng v́ chúng ta đang ở trong cảnh
mộng mà nằm mơ đến khi tỉnh lại th́
không nhớ được ǵ. Tại
sao vậy? Bởi v́ chúng ta vừa ra khỏi cảnh
mộng của kiếp quá khứ, lại tức khắc
đi vào cơi mộng của kiếp nầy cho nên chuyện
ǵ trong quá khứ cũng không nhớ ra được.
Huyễn là hư huyễn, là không
thật, là ảo vọng. Nếu chúng ta thấu hiểu
Phật pháp th́ biết rằng tất cả vật
thể trong cái thế giới nầy là hư ảo, không
thật bởi v́ tất cả chỉ là do nhân duyên ḥa
hợp mà có.
Bọt th́ hư ảo chẳng
thật, c̣n bóng tức là ảnh của một h́nh
tướng cũng như bóng người to nhỏ th́ tùy
theo thân người. V́ có h́nh mới có bóng cho nên h́nh là
thật và bóng là hư giả.
Buổi sáng sớm vào lúc thức
dậy chúng ta thấy trên cỏ c̣n đọng lại
những giọt sương. Nhưng khi mặt trời ló
dạng, ánh nắng chiếu xuống th́ sương tan,
không c̣n nữa. Và điện chớp là hiện
tượng thoáng qua, bất thường.
Do đó, khi quán theo như thế
th́ chúng ta sẽ thấy biển rộng trời cao và tâm
lượng của chúng ta biến thành bao la rộng
lớn, không c̣n ǵ ràng buộc và không có ǵ làm trở ngại
bởi v́ tất cả mọi sự vật chỉ là như
mộng huyễn, như bọt bóng, như sương,
như điện chóp mà thôi.
Tuy pháp hữu vi là giả nhưng con người lúc nào cũng tin là thật, là chắc chắn bền lâu cũng tại v́ “cái chấp” mà ra.
Ngày xưa lúc Tổ thứ năm của Thiền Trung Hoa là Hoằng Nhẫn (602-675) v́ tuổi đă già muốn t́m người để truyền Tổ vị th́ có vị cư sĩ Lư Huệ Năng từ phương Nam đến yết kiến. Ngũ Tổ hỏi:
- Ngươi muốn cầu việc ǵ?
Hưệ Năng thưa:
- Đệ tử chỉ muốn cầu làm Phật.
Tổ hỏi:
- Người phương Nam không có Phật tánh th́ làm sao thành Phật được?
- Huệ Năng thưa:
- Người th́ có Nam Bắc, Phật tánh há có Nam Bắc sao?
Trong số hơn 700 đệ tử, th́ thượng tọa Thần Tú là đệ tử giỏi nhất nên sau khi nghe ư của Tổ muốn truyền vị bèn làm một bài kệ như sau:
Thân
thị Bồ-đề thọ
Tâm
như minh cảnh đài
Thời
thời thường phất thức
Vật
sử nhạ trần ai.
Dịch là:
Thân là cội Bồ-đề (chấp
có tướng)
Tâm như đài gương sáng (chấp
có tướng)
Luôn luôn phải lau chùi (chấp
có tu)
Chớ để dính bụi
trần. (chấp có chứng)
V́ mỗi câu đều có chấp, chứng tỏ ngài Thần Tú chưa ngộ được tính không của Kim Cang Bát Nhă nên bị Tổ Hoằng Nhẫn chê là :”C̣n đứng ngoài hàng rào”. Trong khi Lư Huệ Năng làm bài kệ đối như sau:
Bồ-đề
bổn vô thọ
Tâm
phi minh cảnh đài
Bổn
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhạ trần ai.
Dịch là:
Bồ-đề không phải cây (không
chấp có tướng)
Chơn tâm không phải đài (không
chấp có tướng)
Xưa nay không một vật (không
chấp ḿnh tu)
Chỗ nào dính bụi trần (không
chấp ḿnh chứng
quả)
Do chỗ đă ngộ được Lư Không trong kinh Kim Cang Bát Nhă để phá trừ chấp ngă và chấp pháp mà Ngài Huệ Năng trở thành Lục Tổ và cũng là vị Tổ sau cùng của Phật giáo Trung Quốc.
V́ có chấp cho dù đó là chấp “Có” hay chấp “Không” cũng đều là vọng chấp cả nên không thể chứng được đạo Bồ-đề. Bởi thế Phật có dạy rằng:
Nhược nhơn dục
thức Phật cảnh giới
Đương tịnh kỳ ư
như hư không.
Dịch là:
Nếu người muốn
biết cảnh giới Phật
Tâm phải thanh tịnh như
hư không.
Trong thế giới hiện nay chúng ta thấy Luật nhân quả hiển hiện khắp mọi nơi. Con người gây ra ác nghiệp bây giờ không cần đợi qua đến kiếp sau mới thấy cái quả mà nó xảy ra liền trước mắt của họ trong đời nầy. Cái quả báo nhăn tiền nầy nhà Phật gọi là Hiện báo nghiệp. Thêm nữa Luật Nhân quả đối với nhân sinh vũ trụ đều thuộc về pháp hữu vi cho nên tât cả đều bị chi phối bởi thời gian, tức là thành, trụ, hoại, không của thế gian. Có nghĩa là “cái Có” rồi nó sẽ trở về với “cái Không”. Thí dụ như cung thành Ca Tỳ La Vệ ngày xưa rực rỡ bao nhiêu mà trải qua mới mấy ngàn năm bây giờ chỉ c̣n lại vài cục gạch bể mà thôi. Khi vua Lư Công Uẩn xây dựng thành Thăng Long, tức Hà Nội bây giờ, cách nay khoảng 1000 năm mà gần đây các nhà khảo cổ đă đào được một khu làng đă bị chôn sâu vào ḷng đất. Thế th́ “thành, trụ, hoại, không” nói lên được tánh vô thường của vạn pháp. Thật vậy, trên đời nầy không có ǵ là vĩnh viễn trường cửu cả như ngày xưa Đ́nh Trưởng đă nói với Sở Bá Vương lần cuối cùng ở bến Ô Giang là:
“Mảnh
trăng mới khuyết chưa tṛn,
Tay không Hạng Vơ lại hoàn tay
không”.
Nếu nói Luật Nhân quả dựa trên yếu tố thời gian th́ Đức Phật đưa ra Lư Nhân Duyên dựa trên yếu tố không gian để khai thị cho con người thấu hiểu rằng tất cả mọi cấu tạo h́nh thành của vạn pháp là do nhân duyên ḥa hợp mà có. Không có một vật ǵ trên trái đất nầy hay trong vũ trụ mà tự nó phát triển hay tạo thành mà không có giúp đỡ của những nhân khác. Một chén cơm chúng ta ăn là do sự kết tập từ hạt lúa, đến phân bón, nước, ánh sáng mặt trời và tay vun trồng của người nông phu…chớ hạt lúa không thể tự nó biến thành lúa được. Chiếc áo chúng ta đang mặc là do bàn tay khéo của người thợ may, mà muốn có vải để may th́ cần có tơ lụa để dệt và tơ lụa th́ cần phải có người nông phu trồng bông vải…V́ thế một nhân mà không có trợ duyên th́ sẽ vĩnh viễn không bao giờ thành quả. Nói tóm lại, không có một hiện tượng vật chất hoặc tinh thần nào trên thế gian nầy có thể tự nó sinh tồn mà không tùy thuộc đến những trợ duyên khác. V́ cần đến những duyên chung quanh nên nhân mới có cơ hội sinh khởi hay hủy diệt mà từ đó thuyết Duyên Khởi được ra đời. Hăy quan sát lại cái thân tứ đại của chúng ta. Chúng ta c̣n sống là bởi tim, gan, phèo, phổi hoạt động tương trợ cho nhau. Khi ăn uống vào th́ chúng ta cung cấp năng lượng cho các tế bào để hoạt động. Khi hít thở chúng ta đem dưỡng khí vào phổi để ḍng máu được lưu truyền mà nuôi toàn thân. Thận th́ thanh lọc và sa thải chất dơ để thân thể đủ sức đề kháng chống lại bệnh tật. Máu phải chuyển dưỡng khí lên óc làm cho hệ thống năo tủy họat động để chi phối mọi cơ năng của con người. Nói thế th́ con người của chúng ta chẳng qua là do sự kết hợp của trùng trùng duyên khởi mà thôi. Bây giờ chúng ta nh́n xa một chút th́ chung quanh chúng ta từ đơn vị nhỏ là gia đ́nh cho đến xă hội và thế giới vũ trụ cũng thế. Sự sinh tồn và hủy diệt của vạn pháp trên thế gian nầy chẳng qua chỉ là sự kết hợp hay phân ly của những duyên khởi mà ra. Cái nhà chúng ta đang ở, cái xe chúng đang dùng hoặc thức ăn, áo quần hay vật dụng đều là những duyên khởi cả. Không có gạch, ngói, đá, xi măng và công thợ th́ làm ǵ có cái nhà? Không có sắt, thép, chất cao su và máy móc tân kỳ th́ t́m đâu ra chiếc xe hơi? Không có ruộng đồng, phân bón và công người nông phu th́ làm ǵ có cơm hay thức ăn thức uống cho chúng ta? Không có bông vải và hảng dệt cũng như bàn tay khéo léo của người thợ may th́ làm ǵ chúng ta có những bộ áo quần tốt? Không có những bộ óc khoa học kỷ thuật th́ làm ǵ có được những chiếc máy bay khổng lồ để chở chúng ta vượt qua Thái B́nh Dương về thăm quê hương? Nhưng tất cả cũng đều nằm trong quy luật:” Duyên kết th́ thành c̣n duyên tan th́ hoại”. Do đó luật nhân quả mà không có lư nhân duyên
hợp lại th́ không bao giờ thành tựu. V́ thế không gian vô tận và thời gian vô biên là dựa theo Luật nhân quả và Lư nhân duyên mà tạo thành thế giới vũ trụ nầy.
Vũ
trụ th́ như thế c̣n sự sinh tồn của con
người như thế nào?
Con người cũng như vạn vật có được là nhờ nhân duyên ḥa hợp tạo thành và khi nhân duyên tan ră là chết. Sự hạnh phúc hay khổ đau của con người cũng như vạn vật đă được gọi ghém rơ ràng trong Bát Nhă Tâm Kinh.

“Tham một thứ th́ nhiều thêm một thứ. Ít đi một vọng niệm th́ bớt đi một chút nghiệp và sẽ tăng thêm một phần giải thoát.”
Ma-Ha
Bát-Nhă Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh:
“Quán Tự Tại Bồ Tát hành
thâm Bát Nhă ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến
ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ
ách”.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất
dị không, không bất dị sắc; sắc tức
thị không, không tức thị sắc; thọ,
tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! thị chư
pháp không tướng: bất sanh, bất diệt, bất
cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng,
hành, thức; vô nhăn, nhĩ, thiệt, thân, ư; vô sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp; vô nhăn-giới năi chí vô
ư-thức giới; vô Vô-minh diệc vô Vô-minh tận năi chí vô
lăo-tử diệc vô lăo-tử tận; vô Khổ, Tập,
Diệt, Đạo; vô Trí diệc vô Đắc.
Dĩ vô sở đắc
cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhă
ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại
cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên
đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn.
Tam thế chư Phật y Bát-nhă
ba-la-mật-đa cố, đắc a-nậu đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề.
Cố tri Bát-nhă
ba-la-mật-đa, thị đại thần-chú, thị
đại minh-chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng-đẳng
chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn
thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát-nhă
ba-la-mật-đa chú. Tức thuyết chú viết:
“Yết-đế
yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng
yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha”.
Bộ tâm kinh với 260 chữ nầy đă bao trùm toàn bộ chân lư của Đức Phật. Ngài đă thuyết minh về cái Lư Không và cái Thật Tướng của vạn pháp để con người có cái nh́n sâu xa về cái “Có’ với cái ”Không” và cái “Thật” đối cái “Giả”. Trong 49 năm hành đạo Đức Phật đă thuyết giảng qua 12 bộ kinh th́ giáo lư của Đức Phật rộng răi bao la vô tận. Để dễ hiểu chúng ta cứ tưởng tượng những lời Phật dạy th́ vô cùng vô tận như bao ngàn mẫu cây mía. Khi các vị thánh tăng đem gom góp chúng thành 12 bộ đại tạng kinh cũng như là đem ép mấy ngàn mẫu cây mía kia thành ra 12 thùng nước mía nguyên chất. Sau cùng Bộ Tâm Kinh nầy chính là chất mật tinh túy được rút ra từ 12 cái thùng nước mía kia. Vậy Bộ Tâm Kinh nầy là cốt tủy, là phần tinh túy của giáo lư Đức Phật. Chính Ngài Đường Tam Tạng Trần Huyền Trang đă qua tận Ấn Độ để tham khảo, thỉnh kinh và phiên dịch bộ kinh “Đại Bát Nhă” dày 600 quyển và Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh chính là tinh yếu, là cốt tủy của bộ Đại Bát Nhă nầy. Bộ Bát Nhă Tâm Kinh được dịch như sau:
“Khi Ngài Bồ Tát Quán Tự
Tại thực hành sâu xa pháp Bát Nhă Ba La mật đa, Ngài soi
thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy
khổ ách.
“Này Ông Xá Lợi Phất! Sắc
chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc tức
là Không, Không tức là Sắc. Thọ, tưởng, hành, thức
cũng đều như thế.
“Này Ông Xá Lợi Phất!
Tướng “Không” của mọi pháp, không sanh, không
diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt.
“V́ vậy này Ông Xá Lợi
Phất! trong “tướng không” không có Sắc, không có
Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ư; không có Sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp; không có nhăn-giới cho đến không có
ư-thức giới; không có minh, không có vô minh; cũng không có
cái hết vô minh, cho đến không có tuổi già sự
chết và cũng không có cái hết của tuổi già
sự chết; không có khổ, tập, diệt, đạo;
không có trí huệ cũng không có chứng đắc.
“V́ không có chỗ chứng
đắc, nên Bồ tát y theo Bát Nhă Ba-La-Mật-Đa, tâm
không ngăn ngại. V́ không ngăn ngại, nên không sợ
hăi, xa ĺa điên đảo, mộng tưởng,
đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật
trong ba đời cũng y vào Bát Nhă Ba-La-Mật-Đa mà
được đạo quả vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
“V́ vậy, nên biết Bát Nhă
Ba-La-Mật là đại thần chú, là chú của
đại minh huệ và cũng là thần chú cao tuyệt,
thần chú vô giá có thể trừ diệt hết mọi
khổ đau; đó là chân lư v́ không sai lầm.
“Đây là thần chú
được công bố trong kinh Bát Nhă Ba-La-Mật: Này
Bồ-đề, đi qua, đi qua, qua bờ bên kia, qua
đến bờ bên kia.
Tâm kinh là
kinh tinh yếu của toàn bộ Đại Bát Nhă. Tuy
bộ tâm kinh chỉ vỏn vẹn có 260 chữ mà ư nghĩa
của nó bao hàm cả 600 quyển Đại Bát Nhă. Ma Ha là
lớn, là đại. Lư do Ngải Trần Huyền Trang
gọi nó là tâm kinh bởi v́ Ngài ám chỉ kinh nầy là
chủ tể của tất cả kinh thuộc loại Bát
Nhă, tức là trí tuệ, cũng như chúng ta lấy tâm làm
chủ tể cho con người của ḿnh vậy. Bát Nhă
tức là trí tuệ c̣n Ba-La-Mật là tới bờ bên kia.
Bờ bên nầy là thế gian c̣n bờ bên kia là Niết
bàn. Hoặc là bờ bên nầy là dẫy đầy tham lam
c̣n bờ bên kia là Phật đạo. Cũng có thể
hiểu là thấy Có, thấy Không là bờ bên nầy c̣n có
đủ sáng suốt để phá cái Có, cái Không là
đến bờ bên kia. Do đó Ma-ha Bát-Nhă
Ba-la-mật-đa tâm kinh có nghĩa là bài kinh nằm ḷng nói
về Đại Trí tuệ. Vậy Bát Nhă Ba-La-Mật là cái
sáng suốt có thể đưa người tới bờ
bên kia, tức là được giác ngộ. Cái sáng suốt nầy
được gọi là cái sáng suốt triệt để
v́ nó không h́nh, không tướng. Mặc dù chúng ta
không thấy được nó cũng như không thể nào
diễn tả về nó, nhưng thật ra chúng ta có thể
biết được sự hiện hữu của nó,
tức là biết nó bằng cách xuyên qua các công dụng,
tức là việc làm của nó. Chẳng hạn như khi
chúng ta bố thí tiền của cho người nghèo khổ
th́ tâm chúng ta cảm thấy hân hoan khoan khoái v́ đây là
việc thiện. Cái khoan khoái nầy chính là sự bộc
lộ thiện tâm của chúng ta. Nhưng đố ai t́m
ra được cái thiện tâm của ḿnh? V́ thế cái trí tuệ Bát nhă
cũng vậy. Chúng ta nghiệm biết được nó
là nhờ nh́n vào cái nhân dụng của nó mà thôi. Bởi
thế cổ nhân có câu:
“Dĩ sự nghiệm tri, nhân
dụng khả biện.”
Vậy trước hết chúng ta hăy suy nghiệm về câu Bồ tát Quán Tự Tại thấy được ngũ uẩn là không.
Ngũ uẩn giai không.
Bởi do nhân duyên ḥa hợp
tất cả những nghiệp duyên từ trong quá khứ
mà kiến tạo ra con người trong kiếp nầy. Nói
một cách khác con người chỉ là sự kết
hợp, tạo thành của Ngũ uẩn mà thôi bởi v́
uẩn có nghĩa là tích tụ thành một khối. Ngũ
uẩn th́ có sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn và sau cùng
là thức uẩn. Một cách dễ hiễu là thân thể
con người gồm có hai phần là thân xác và tâm linh.
Phần thân xác có h́nh dáng nên gọi là sắc uẩn c̣n
phần tâm linh v́ không có h́nh sắc nên gọi là danh và bao
gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và
thức uẩn. Vậy Ngũ uẩn là một danh từ
dùng chỉ cho con người hay nói một cách rộng răi
là chỉ cho toàn thể nhân sinh vũ trụ. Khi Ngài Bồ
tát Quán Tự Tại thực hành Bát Nhă Ba La Mật một
cách sâu xa th́ Ngài quán chiếu và thấy rằng ngũ
uẩn giai không. Nhưng thế nào là giai không?
Giai không có nghĩa là vô ngă hay là không có tự tánh. Muốn
hiểu vô ngă hay không có tự tánh th́ trước hết
phải biết thế nào là ngă hay tự tánh. Ngă là bản chất để
tự nó có thể phát triển mà không cần đến
sự giúp đỡ bởi những nhân duyên khác.
Nếu hạt lúa có ngă th́ tự nó lớn lên rồi
trở thành cây lúa, nhưng hạt lúa không thể tự nó
phát triển được nếu không có những trợ
duyên như đất, nước, phân bón, ánh sáng…v́ thế
tự tánh của hạt lúa là vô ngă hay nói một cách khác là
hạt lúa không có tự tánh. Bất cứ vạn pháp nào
trên thế gian nầy mà muốn sinh tồn hay phát triển
được đều cần phải có trợ duyên.
Cái xe là sự tổng hợp của biết bao sắt, kim
loại, plastic và công phu của bao nhiêu người
thợ…Cái nhà chúng ta đang ở là do cây, gỗ, gạch,
ngói và công thợ tạo thành mà chính cây, gỗ, gạch, ngói
không thể tồn tại bởi chính nó cho nên toàn bộ
cái nhà không thể nào tồn tại được v́
thế cái nhà cũng là vô ngă, tức là không. Có nghĩa là cái
nhà nầy một ngày nào đó sẽ trở về với
cát bụi v́ ảnh hưởng bởi luật vô
thường.
Vậy trước hết
sắc uẩn có vô ngă không?
Thân xác của con người là sự kết hợp của tứ đại. Đó là đất, nước, gió, lửa. Chất cứng trong thân thể như xương, thịt, tóc, da th́ thuộc về đất. Chất ướt như máu me, nước đờm, nước miếng th́ thuộc về nước. Máu đen chạy từ cơ thể về tim và từ tim mang máu đỏ để nuôi tất cả các tế bào và mang oxygen cho sự sống th́ gọi là gió. Muốn thân thể tồn tại th́ cơ thể phải tiêu hóa đồ ăn thức uống để cung cấp năng lượng hay hơi nóng cho các tế bào được sống th́ gọi là lửa. Nhưng nh́n kỹ th́ bốn món đất, nước, gió, lửa lại thù nghịch chống đối lẫn nhau. Gió th́ không ưa đất c̣n nước th́ kỵ lửa. Một khi gió thịnh hơn đất hay là gió thổi ào ào vô mạnh th́ thân thể đau nhức uể oải. C̣n lúc nào nước mạnh hơn lửa th́ chúng ta lạnh phát run hoặc lửa thạnh hơn nước th́ chúng ta lên cơn sốt. V́ mang bản chất thù nghịch nên cái nầy luôn luôn muốn đàn áp cái kia làm cho thân của chúng ta không an là như vậy.
Nói tóm lại thân xác của chúng ta là do sự kết hợp của nhiều nhân duyên tạo thành th́ chính nó không có tự tánh, không có chủ thể hay vô ngă tức là không. V́ mang tính vô ngă như thế nên không một ai trên thế gian nầy từ cổ đến kim thoát ra khỏi định luật “thành, trụ, hoại, không” cả. Có nghĩa là có sinh tất có diệt. Bởi thế mới có câu:”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử?” là vậy.
Như thế th́ sắc uẩn chính là sự kết tụ, chất chứa của vật chất để tạo ra những h́nh tướng như thân thể và cảnh vật. Sắc uẩn gồm có năm căn và sáu trần. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân thể. C̣n lục trần th́ có :
Thanh trần: tiếng mà tai nghe được.
Hương trần: hương vị do mũi ngửi được.
Vị trần: mùi vị do lưỡi nếm được.
Xúc trần: cảm xúc do thân biết được.
Pháp trần: đây là cảnh biết của ư thức và chỉ được nhận biết từ trong nội tâm mà thôi.
Bây giờ đến phần tâm linh của con người.
Vậy hảy xem thọ uẩn
có vô ngă không?
Con người chúng ta th́ có lục căn. Đó là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Ngoại cảnh th́ có lục trần. Đó là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Khi mắt của chúng ta thấy một vật ǵ, tức là sắc trần. Tai chúng ta nghe một âm thanh nào, tức là thanh trần. Mũi chúng ta ngữi một mùi thơm ǵ, tức là hương trần. Lưỡi của chúng ta nếm một mùi vị nào, tức là vị trần. Thân của chúng ta cảm thấy nóng, lạnh, cảm giác êm đềm hay đau đớn, tức là xúc trần. Sau cùng th́ ư tưởng để lưu lại những h́nh ảnh, màu sắc, hương vị cũng như cảm giác từ năm trần ở trên để phát sinh ra sự phân biệt th́ gọi là thức.
Vậy thọ uẩn là sự tiếp nhận của lục trần bởi lục căn. Chẳng hạn như khi nghe một bản nhạc rất hay th́ chúng ta cảm nhận được cái vui hay cái buồn của bản nhạc đó. Khi xem một trận đá banh rất sôi nổi th́ chúng ta cảm nhận cái tài nghệ, cái hồi hộp của trận đấu bóng nầy. Ăn món ngon vật lạ th́ chúng ta cảm thấy sung sướng v́ hương vị thơm ngon của nó. Tay của chúng ta rờ một tấm áo lông th́ cảm thấy mềm mại êm ái. Do đó thọ là sự tiếp nhận cái vui hay cái buồn của thế gian bởi v́ lục căn tự nó không có thọ chẳng hạn như chính cái lưỡi không có mùi vị nhưng khi nếm thức ăn ngon th́ sinh ra khoái khẩu tức là lạc thọ nên muốn ăn món ngon và chê món dở. Nhưng tất cả những sự tiếp nhận nầy đều cấu thành bởi những nhân duyên bên ngoài mà đă là từ nhân duyên th́ chính nó không có tự tánh hay vô ngă tức là Không. Trong Phật giáo, thọ được chia làm ba loại: lạc thọ, khổ thọ và vô kư thọ.
Ø Lạc thọ là cảm nhận được cái vui, cái sung sướng ở thế gian nầy do sự tiếp xúc mà ra.
Ø Khổ thọ là cảm nhận sự đau khổ hay bất hạnh do cuộc đời đưa đến.
Ø Xả thọ hay vô kư thọ là không vui cũng chẳng buồn. Lúc nào cũng vậy thôi. Trước sau như một.
V́ những cảm giác của thân và tâm sinh diệt bất thường có nghĩa là chúng không ở măi một trạng thái nào cố định trong tàng thức của chúng ta. Mới thấy vui th́ nổi buồn đă đến hay buồn vui lẫn lộn th́ thọ chính là vô ngă tức là không.
Đối với người tu Phật th́ cần phải hiểu chữ “thọ” cho sâu rộng. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần th́ chúng ta cảm nhận hay “thọ” những cái vui hay cái buồn. Nếu tâm chúng ta thọ cái vui, cái sung sướng th́ nó sẽ bị lục trần cuốn theo làm cho tâm bị mê hoặc. Khi ăn món ngon vật lạ th́ đâm ra khoái khẩu tức là lạc thọ, do đó chúng ta cứ muốn ăn ngon hoài. Nếu không được ăn ngon như thế hằng ngày th́ cảm thấy đau khổ, cắn rứt. C̣n nếu cố gắng làm mọi cách để thỏa măn cái dục tính nầy th́ gây ra nghiệp để phải chịu quả khổ về sau. Do đó chạy theo lạc thọ là chạy theo luân hồi sanh tử. C̣n khổ thọ là cảm nhận những đau khổ đắng cay của cuộc đời th́ tâm sân sẽ phát hiện. Có người cần cù lao động, đầu tắt mặt tối mà vẫn không đủ tiền để nuôi gia đ́nh nên họ nh́n cuộc đời thật cay đắng. Họ đâm ra thù ghét đời và trách móc con tạo khéo xoay vần cho đời họ phải khổ. Nhưng họ quên khổ là cái quả mà họ đă tạo ra từ trong quá khứ. Thế th́ khổ thọ cũng đưa đẩy con người lún sâu trong ṿng sinh tử luân hồi mà thôi. Cho nên cổ nhân mới có câu:
Tội nghiệp tiền thân nay
phải chịu
Chịu rồi mới hết
nghiệp oan gia.
Con đường duy nhất để đạt đến tâm thanh tịnh và cảnh giới Niết Bàn là vô kư thọ. Khi chúng ta bên ngoài không bị lục trần quyến rũ và bên trong không bị kích động bởi tham lam, giận hờn và si mê th́ tâm của chúng ta sẽ thanh tịnh. Có nghĩa là dục lạc của thế gian khó mà cám dỗ làm cho chúng ta bị mê hoặc. Cái mà chúng ta đi t́m chính là sự an lạc từ trong nội tâm.
V́ sự an lạc nầy mà Ngài Xuyên Thiền Sư làm bài tụng như sau:
Kiến sắc phi can sắc
Văn thinh bất thị thinh
Sắc thinh vô ngại xứ
Thân đáo pháp vương thành
Nghĩa là:
Thấy
sắc không mê sắc
Nghe
tiếng chẳng nhiễm tiếng
Sắc
tiếng đều không ngại
Mới
đến Pháp vương thành.
Ư Ngài Xuyên Thiền Sư là mỗi khi lục căn tiếp xúc với lục trần mà tâm không khởi vọng niệm phân biệt, nhiễm ô nơi trần cảnh th́ chúng ta sẽ được vào cảnh giới Phật.
Bây giờ tưởng uẩn có
vô ngă không?
Tưởng là nhớ lại những h́nh ảnh vui khổ của thân và tâm. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần th́ trong tâm tưởng của chúng ta ghi nhớ lại những h́nh ảnh của quá khứ nầy. Chẳng hạn như đêm thứ bảy vừa qua chúng ta đi xem đại nhạc hội th́ khi nghĩ lại chúng ta c̣n liên tưởng đến những cảnh nhạc nhả nhộn nhịp đó. Khi ăn một món ngon th́ có lúc chúng ta liên tưởng sự khoái lạc của món ăn nầy. Ai chưởi mắng th́ có lúc chúng ta cũng liên tưởng đến cảnh bực bội đau khổ kia. Do đó sau khi lục căn tiếp xúc với lục trần để lănh thọ các cảnh khổ vui và sau đó sanh ra tưởng nhớ. V́ tưởng nhớ không phải tự nó có được mà cần phải có nhiều nhân duyên từ bên ngoài tạo tác nên tưởng uẩn là vô ngă tức là không.
C̣n hành uẩn th́ sao?
Hành là sự biến chuyển thay đổi của tâm niệm. Con người mỗi ngày từ khi thức giấc đến khi đi ngủ th́ trong tâm chất đầy biết bao ư niệm. Ư niệm sau thay thế ư niệm trước và cứ thế mà ư niệm sanh khởi liên tục trong tâm của chúng ta. Khi lái xe đến sở làm chúng ta liên tưởng những chuyện sắp xảy ra trong sở và đôi khi cũng liên tưởng đến những chuyện đă xảy ra ở nhà và đang xảy ra trong khi lái xe. V́ thế ư niệm đến từ h́nh ảnh hay kinh nghiệm trong quá khứ, hiện tại cũng như vị lai. Nhưng tất cả những tâm niệm nầy là do ở ngoại cảnh bên ngoài mang đến, có nghĩa là do nhân duyên kết tạo mới có sự suy tư. V́ do nhân duyên ḥa hợp nên hành uẩn cũng là vô ngă tức là Không.
Vậy thức uẩn có vô ngă
không?
Thức là sự hiểu biết phân biệt để có khả năng biến hiện ra các cảnh và phân biệt các cảnh. Khi lục căn tiếp xúc với lục trần th́ tất cả những phân biệt để tạo thành cái biết ở trong tâm của chúng ta th́ gọi là thức. Chẳng hạn như mắt vừa thấy một chiếc xe màu xanh th́ tâm liền phân biệt để biết chiếc xe hơi nầy đẹp hay xấu, mới hay cũ và từ đó dĩ nhiên vọng tưởng đua nhau sanh khởi trong tâm của chúng ta. Tai vừa nghe tiếng đàn th́ tâm thức liền phân biệt để cho chúng ta biết tiếng đàn đó hay hay dở làm cho ḷng ta bồi hồi xao xuyến. Xao xuyến chính là vọng tưởng nữa rồi v́ tâm chúng ta chạy theo sự quyến rũ của thính trần. Khi chúng ta vào trong một vườn hoa, hương thơm nồng nàn của hoa dạ lư làm cho chúng ta ngây ngất. Khi mũi đă có sự phân biệt từ bên ngoài th́ tâm cũng bắt đầu phân biệt mùi vị. Mùi vị thơm th́ ta mê, ta thích c̣n ngược lại th́ ta chán, ta chê. Có phân biệt là chạy theo vọng trần tức là khổ. Nếu ai mời ta đi ăn những món ngon vật lạ th́ lưỡi bắt đầu phân biệt hương vị của thức ăn để cho chúng ta biết món ăn nào ngon và món ăn nào không khoái khẩu. Khi sự phân biệt thành cái biết th́ đây chính là thức uẩn. Nói tóm lại khi lục căn tiếp xúc với lục trần th́ tâm khởi sự phân biệt để sanh ra lục thức. Chính lục thức nầy là những ư tưởng lưu lại trong tâm thức của chúng ta. Thêm nữa dựa theo duy thức luận th́ ngoài lục thức ở trên c̣n có Ma-na-thức và A-lại-da thức để chất chứa tất cả những chủng tử hữu lậu và vô lậu của các pháp.
Như
thế trong ngũ uẩn có sắc uẩn, thọ uẩn,
tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn
đều là vô ngă th́ dĩ nhiên ngũ uẩn cũng là vô
ngă tức là không.
Đại thừa Phật giáo khẳng định rằng vạn vật trong thế gian nầy hay nói theo danh từ nhà Phật là tất cả các pháp trong vũ trụ đều có hai h́nh tướng. Cái tướng bên ngoài là cái tướng mà chúng ta dùng ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) để nhận biết qua ư thức mà chúng ta đặt tên là con người, sinh vật, mặt trời, mặt trăng, xe cộ, áo quần, bông hoa, nhà cửa…Cái h́nh tướng bên ngoài nầy mà ai ai cũng thấy, biết được th́ chúng ta gọi là “Có”. C̣n cái thật tướng ở bên trong là cái tướng chỉ dùng mắt trí tuệ mới thấy, mới nhận được v́ tướng đó không h́nh, không sắc mà Đức Phật gọi là “Không tướng”. Cái “Không tướng” nầy mới chính là thật tướng của vạn pháp. Bởi v́ cái tướng không h́nh sắc, không thấy kia, mới là chân thật, v́ từ vô thỉ đến vô chung hay nói một cách khác là từ không biết bao lâu trong quá khứ đến bây giờ và từ đây cho đến không biết khi nào cho cùng tận, nó vẫn măi măi như thế, có nghĩa là nó không trẻ, không già, không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt.... C̣n cái tướng bề ngoài là cái tướng giả dối, không thật v́ nó biến đổi từng giây, từng phút, rồi cuối cùng tiêu tán trong không gian và thời gian. Đó là theo quy luật:”thành, trụ, hoại, không” của luật vô thường mà thôi.
Cái “thực tướng” hay “Không tướng” mà Đức Phật đă thuyết giảng trong tâm kinh nầy chính là cái trí tuệ Bát Nhă sáng suốt vĩnh hằng có sẳn trong tâm của tất cả chúng ta.
Ngoài ra danh từ nhà Phật gọi cái “Không tướng” nầy là “thể” và cái giả tướng bề ngoài là”dụng”.
Khi chúng ta ra bờ biển th́ thấy mặt nước dâng lên những làn sóng. Làn sóng trước qua đi th́ làn sóng sau lại đến. Những làn sóng thay đổi liên tục nầy chính là “dụng” của thủy triều c̣n “thể” của nước th́ luôn luôn bất động, không thay đổi. Nếu chúng ta có thể xuống tận đáy biển th́ nước rất yên tịnh và đây mới chính là “thể” của nước vậy. Như thế “thể” là thực tướng của vạn pháp c̣n “dụng” là giả tướng, không thật ở bên ngoài.
Đă biết ngũ uẩn là “không”. Vậy thế nào là “Không”?
Chữ “Không” không phải là cái không của suy luận theo thuyết giả danh của con người hay là cái không đối với cái có. Chẳng hạn như chúng ta gọi cái nhà, nhưng thật sự cái nhà là ǵ? Đố ai t́m được cái nhà v́ nó chỉ là cái tên để chỉ cho sự kết hợp của cây, gổ, gạch, ngói…C̣n con người th́ cũng thế. Hăy thử xem cái ǵ là con người? Sự thật con người cũng chỉ là bao xương, thịt kết cấu với một mớ t́nh cảm, tư tưởng… vậy thôi! Do đó những cái mà chúng ta gọi là nhà, là con người toàn là giả danh, không có thật, tức là “Không”.
Vậy “Không” ở đây tức là bản tánh thanh tịnh không có các h́nh tướng.
Một thí dụ khác về “ngũ uẩn là Không” là chúng ta đưa bàn tay năm ngón lên xem. Mỗi ngón tay cứ nghĩ như là mỗi uẩn. Nếu chúng ta nắm năm ngón tay lại để tạo thành một nắm tay cũng như là ngũ uẩn. Chúng ta có nắm tay là bởi từ năm ngón tay tạo thành chứ ban đầu hay tự nó không có nắm tay. Nếu chúng ta buông nắm tay ra th́ không c̣n nắm tay nữa. Do đó nắm tay chỉ là sự cấu tạo bởi năm nhân duyên bên ngoài chớ tự nó không có được nên nắm tay là Không. Ngũ uẩn cũng thế nếu mỗi uẩn tan ră th́ ngũ uẫn chẳng c̣n mà chính mỗi uẩn là Không nên toàn ngũ uẩn phải là Không.
Những thí dụ trên đây cho chúng ta có một nhận định tổng quát về chữ Không dựa theo h́nh dáng để so sánh mà thôi. Thật ra cái “Không” không thể so sánh được v́ chính nó không h́nh, không sắc. Làm thế nào để vẽ hay diễn tả cái không thấy và không có h́nh tướng? Bởi thế cổ nhân cũng có câu tương tự :
Họa hổ họa b́ năng
họa cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm.
Tạm dịch là:
Vẽ
cọp vẽ da cọp được nhưng không thể
vẽ xương cọp v́ không thấy được bên
trong.
Thấy tướng người, thấy mặt người, nhưng không thể thấy tâm người được.
Nói tóm lại cái h́nh tướng bên ngoài của con người hay của tất cả vạn pháp trong vũ trụ như động vật, thực vật hay khoáng vật đều là giả tướng tức là Không. C̣n cái thật tướng bên trong th́ ngũ quan của chúng ta không thấy biết được. Không thấy biết được th́ Phật tạm gọi là Không chớ thật nó không phải là không Có. Ngày nay khoa học đă đi rất xa để chứng minh cho chúng ta biết là đơn vị nhỏ nhất của vật chất mà ngũ quan không thể nào thấy biết được là nguyên tử. Chúng ta tạm gọi những đơn vị nguyên tử nầy là cái tự tánh hay chủ tể của vật chất v́ cho dù chúng ta có tổng hợp vật chất lại với nhau th́ các đơn vị nguyên tử vẫn như ban đầu. Thí dụ như nước là sự tổng hợp của hydrogen và Oxygen, H2O, tức là có sự duyên khởi, có nghĩa là do nhân duyên ḥa hợp v́ thế nước là vô ngă và nó sẽ bị ảnh hưởng bởi luật vô thường có tan có hợp, có sinh có diệt. Nhưng cái tự tánh của Hydrogen hay Oxygen vẫn không mất, tức là hằng có. Vậy cái Không tạm hiểu là những đơn vị nguyên tử v́ từ nó mà tạo thành tất cả những vật thể trên thế gian nầy mà chính nó không bị hủy hoại hay thay đổi theo thời gian. Ví dụ như thân tứ đại của chúng ta. Mặc dầu Phật dạy thân thể của chúng ta là do gió, lửa, đất, nước hợp thành. Khi nói tứ đại là Phật chỉ nói một cách tổng quát chứ thật ra trong bốn món đó là do sự tổng hợp của vô số hóa chất mà thành, tức là do trùng trùng duyên khởi. Chẳng hạn như chất Stainless Steel dùng để làm mặt tủ lạnh cho không bị rĩ sét là do sự tổng hợp của chất thép và chất Nickel. Do đó trong bản phân loại tuần hoàn hóa học của vật chất có tất cả 108 chất từ Hydrogen đến Helium, Oxygen, Đồng, Kẻm, Sắt…th́ cấu tạo nguyên tử của mỗi chất là “Không”. C̣n cái tổng hợp để tạo thành vật nầy, vật kia là cái “Có”. V́ cái “Có” tức là do nhân duyên tạo thành nên cái “Có” sẽ bị hủy diệt tan ră theo thời gian, tức là vô thường. Cái hợp kim Stainless Steel rất cứng nầy thật ra một ngày nào đó cũng sẽ bị tan tành hủy diệt v́ những phản ứng hóa học Oxy khác. C̣n cái “Không” th́ đời đời vẫn như thế, không tăng, không giảm, không dơ, không sạch, không sanh, không diệt. Có nghĩa là oxygen muôn đời vẫn là oxygen.
Một thí dụ khác là khi chúng ta nối mạch điện vào cái bóng đèn. Khi mở, bóng đèn sáng th́ chúng ta cho là “Có” điện. C̣n tắt, bóng đèn tối th́ chúng ta cho là “Không có” điện. Cái Có và cái Không là do thấy bóng đèn sáng hay không sáng mà nói. Khi bóng đèn không sáng chúng ta gọi là Không. Nhưng cái Không có thật là không chăng? Chúng ta gọi nó là Không là v́ không thấy nhưng thật ra thể điện vẫn c̣n nằm bên trong giây điện chớ đâu phải không. Khi mở th́ các electron di chuyển tạo ra ánh sáng cho bóng đèn. C̣n tắt th́ electron không di động nhưng thể điện luôn luôn nằm đó chớ đâu có mất. V́ thế cái Không có nghĩa là không thấy chứ không phải là không có.
Khi nói đến khoa học th́ có người thắc mắc rằng các nhà bác học có phải là người giác ngộ như Phật không? Xin thưa chắc chắn là không. Tại sao? Cái giống nhau giữa Phật và nhà bác học là họ có thể nh́n thấy sau xa chân tướng của nhân sinh vũ trụ. Các nhà bác học có thể phân tích, khám phá và t́m thấy sự sinh tồn của tất cả mọi loài hay các hành tinh trong vũ trụ bằng những quy luật giống như vô ngă và vô thường của nhà Phật. Sự hiểu biết của họ thật xâu xa và chính xác. Nhưng cái mà họ cố t́m hay khám phá là nằm trong ṿng sinh diệt của vũ trụ mà thôi, tức là cái có sẽ trở thành cái không và ngược lại. Họ càng cố công t́m ṭi khám phá th́ tâm họ càng vọng động, tức là họ càng chạy nhanh vào ṿng sinh tử khổ đau. Quư vị có thấy nhà bác học nào nói ḿnh thật hạnh phúc đâu? Họ càng khám phá th́ họ càng thấy ḿnh ngu dốt, tức là việc làm của họ là để thỏa măn cái tính tham của sự hiểu biết chớ không phải là sự giác ngộ do ḷng từ bi hay do sự lợi lạc cho chúng sanh. Ngược lại Đức Phật thấy được sự sinh tồn của vũ trụ mà tâm rất thanh tịnh, không bị khổ đau chi phối. Tâm Đức Phật th́ thường trụ Niết Bàn, bất sanh, bất diệt. Đây mới chính là chân giác ngộ.
Khi
Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa pháp Bát Nhă
ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều
không, qua hết thảy khổ ách.
Chúng ta là phàm nhân nên thường lầm ngũ uẩn là Có, tức là đối với chúng ta th́ người và vật là thật Có. C̣n Phật th́ bảo là thật Không, tức là chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Đây là hai nhận xét hoàn toàn trái ngược nhau đưa đến hai ảnh hưởng hay tư tưởng sống cũng trái ngược nhau. Thật vậy, v́ chúng ta nhận lầm ngũ uẩn là thật Có nên chúng ta mới niếm mùi khổ đau. Trong khi Phật, các vị Bồ tát, nhờ sáng suốt triệt để mà thấy ngũ uẩn đều không, tức là người cũng Không mà Ta cũng Không nên họ không c̣n khổ năo.
Nếu chúng ta tin ngũ uẩn là thật Có th́ trong ta chắc chắn phải có cái Ta. Ta có cái Ta riêng biệt cho chính ta th́ mọi người cũng có cái Ta riêng biệt cho họ như thế và không có cái Ta nào giống cái Ta nào cả. Trên thế giới hiện nay có trên 6 tỷ người, tức là có trên 6 tỷ cái Ta riêng biệt. Đă là riêng biệt th́ mạnh ai tự lo lấy cho ḿnh và từ đó ḷng ích kỷ bắt đầu nẩy sanh. Nhưng tại sao lại phải ích kỷ? Con người th́ lúc nào cũng muốn làm sao cho cuộc đời của ḿnh được êm đềm sung sướng và hơn hẳn mọi người. Cái Ta của ta càng sung sướng th́ càng hạnh phúc mặc kệ những cái Ta khác như thế nào. Ḷng ích kỷ nầy chính thật là ḷng tham vô đáy. Mà đă có tham là có tranh thủ để dành cái sướng cho ḿnh và để cái không sướng, cái bất hạnh cho người khác. Nếu mong ước mà thành tựu th́ vui c̣n mong mà không được th́ buồn. C̣n nếu được rồi th́ sợ mất nên đâm lo. Nhưng sợ mà vẫn mất th́ cái lo thành ra cái khổ. Mà càng khổ th́ càng oán giận để trách trời, oán người. Tất cả những thứ tham lam, giận hờn và bất măn là bắt nguồn từ cái si mê tăm tối mà ra. Cái tham, cái giận càng tăng th́ ḷng si mê càng sâu chẳng khác nào như con tằm nhả tơ. Cái kén càng dày th́ cái tối trong ḷng kén càng thêm.
Thêm nữa lối nhận thấy của các vị Bồ tát quán tự tại không giống lối nhận xét của phàm nhân. Chúng ta thấy vạn pháp bằng nhục nhăn, tức là bằng mắt thịt, c̣n các Ngài nhận thấy bằng mắt trí tuệ, tức là bằng mắt Bát-nhă-ba-la-mật-đa. Đây là cái thấy sáng suốt triệt để và dĩ nhiên cũng dẫn đến hai kết quả trái ngược nhau. Đó là chúng ta thấy Có c̣n các Ngài th́ thấy Không.
Năm uẩn là thành phần căn bản của con người, tức là cái Ta của ta và nói một cách rộng rải hơn là của tất cả vạn vật trong vũ trụ. Do đó thấy Có tức là chấp nhận Có cái Ta của con người và của vạn vật.
Bởi là phàm nhân chúng ta quả quyết ngũ uẩn là Có v́ chúng ta thấy biết được nó. Hoặc là nếu không thấy được th́ cũng nếm hay rờ được. Bây giờ hăy lấy cái Ta làm thí dụ. Bất luận là ở lứa tuổi nào, chẳng hạn như khi ta lên 10 tuổi, 30 tuổi hay 60 tuổi th́ ở lứa tuổi ấy cái hay biết phát sinh ở trong ta th́ ta luôn vổ ngực mà xưng là ta đây. Tại sao chúng ta lại có nhiều cái Ta như thế? Vậy cái Ta nào là cái Ta thật? Cái Ta lúc mới sanh, hay cái Ta lúc 10 tuổi…Như vậy mỗi thời điểm trong cuộc đời th́ chúng ta có một cái Ta mới cho nên cái Ta trước không giống cái Ta sau. V́ thế nếu đă có hơn một cái Ta th́ không một cái Ta nào là thật cả.
Cùng lối lư luận nầy mà áp dụng cho tất cả sự vật khác, có cái th́ thuộc về vật chất, tức là sắc pháp và có cái thuộc về tinh thần, tức là tâm pháp, th́ kết quả đều như nhau. Đó là tất cả vạn hữu là Không, có nghĩa chúng là giả Có chớ không phải thật Có.
V́ Không mà Thật
nên gọi là Chơn Không và v́ Không mà lại Có nên gọi là
Diệu Hữu. Chẳng hạn trong cái trứng đố
ai t́m ra con gà. Thế mà từ trong cái trứng lại
xuất hiện một con gà. Thế th́ con gà là cái Có do một
cái Không mà ra! Nói một cách khác là trong cái Không ấy
có con gà, nhưng có bằng một cách thần diệu, không
thể nghĩ bàn mà Phật giáo gọi là bất khả
tư nghị. Thật vậy nếu không có cái Không kỳ
diệu nầy th́ trên thế gian nầy sẽ không có cái ǵ
hết. V́ vậy giữa Không và Có chắc chắn có
một sự tương quan rất mật thiết
với nhau. Hay nói một cách khác Có và Không, tuy hai nhưng mà
một. Có tức là Không và Không tức là Có. Nếu cái Một
nầy khi ẩn hay tĩnh là Không c̣n khi hiện hay
động là Có vậy thôi.
Tại sao biết “Ngũ uẩn
đều không” th́ vượt qua mọi khổ ách?
Ngũ uẩn là thân và tâm hay c̣n gọi là “con người”. Đây là một cá thể do vật chất và tinh thần hợp thành. Nói một cách rộng răi hơn vật chất và tinh thần hợp thành vạn vật trong vũ trụ.
Nhưng con người thật, tức là “chân nhân”, không phải chỉ là của xác thịt và t́nh cảm mà nó là những cái có sanh, có diệt, có dơ, có sạch, có thêm, có bớt. Mà cái ǵ ngược lại, tức là bất sanh, bất diệt, không tăng, không giảm, trước sau như một th́ Bát Nhă Tâm Kinh gọi cái đó là “Không” và những kinh khác gọi là Chơn tâm, Diệu Hữu Chơn Không, Thực Tánh, Phật Tánh, Linh Quang…
Tất cả những phiền năo, lo âu, khổ sở…của chúng ta đều do cái thân ngũ uẩn mà ra. Thân kêu đói, chúng ta lầm tưởng là cái Ta thật đói, thân muốn ăn ngon, chúng ta lầm tưởng là cái Ta đ̣i ăn. Ai mắng chửi, mạt sát, chúng ta giận v́ tin rằng họ đụng chạm tới cái Ta của ḿnh. Nhưng tất cả những phản ứng của cơ thể hoặc của thói quen, quan niệm, hay thành kiến kia thật ra không dính dấp ǵ tới cái Ta thật hết. Nếu nhận thấy ngũ uẩn là không, có nghĩa thân nầy là giả Có th́ chúng ta không c̣n quan tâm lo lắng và phiền năo nữa. Có ai nói nặng nhẹ th́ ḿnh cũng thản nhiên v́ thân không thật nên chúng ta quan tâm, bảo vệ cái không thật để làm ǵ? Chúng ta ăn uống để sống cũng như dùng bè để qua sông chớ không nên cung phụng, nô lệ cho cái thân giả nầy. Có sơn son, thép vàng cho cái bè th́ cũng phải bỏ chiếc bè khi qua sông mà thôi. V́ thế cho dù chúng ta có cưng ch́u, nâng niu cái thân giả nầy th́ một ngày nào đó cũng phải để lại cho cát bụi mà đi. V́ thế thi hào Nguyễn Du mới có câu:
Trăm
năm c̣n có ǵ đâu
Chẳng
qua một nắm cỏ khâu xanh ŕ.
Đức Phật muốn cho chúng ta thấu hiểu tường tận rằng con người có làm bao nhiêu điều tội lỗi, gây ra lắm nghiệp căn để phải chịu quả báo khổ đời đời cũng tại v́ nhận lầm ngũ uẩn là thật Có. Chính cái lầm lẫn nầy mà tam độc, tức là Tham-Sân-Si nẩy sinh để gánh chịu khổ đau. Thật vậy v́ ái thân, nên ḷng tham phát khởi để cố gắng tạo nhà thật sang, xe tuyệt đẹp, tiền dư bạc để, danh vọng cao sang. Mà muốn thỏa măn ḷng tham nầy th́ con người phải khổ. Hoặc nếu không thỏa măn được ḷng tham th́ tâm sân sẽ nổi lên để biến cuộc đời đang an vui thành trăm điều phiền năo. Một khi phiền năo quấy phá th́ chúng ta đâu c̣n trí tuệ để xét đoán việc đời bởi v́ vô minh, tức là si mê đă che lấp đỉnh cao trí tuệ làm cho tâm con người u ám, ngu si.
Do đó nếu biết thân nầy là giả Có, tức là không thật Có th́ chúng ta không làm nô lệ cho nó. Chúng ta chỉ dùng nó như chiếc bè để qua sông. Khi ngồi trên bè th́ chúng ta lái nó chớ đừng cho gịng nước cuốn chiếc bè theo, tức là không chạy theo lục dục thất t́nh. Ai khen, ai tâng bốc th́ cũng không màng v́ thân nầy không thật. Ai chê, ai mắng th́ cũng không giận, không bất măn v́ thân nầy là giả Có. Ví dụ có người lổ măng nói xấu hay chửi mắng mà chúng ta vẫn tự nhiên. Không phải là chúng ta ĺ hay chai mặt nhưng chúng ta tư duy quán chiếu thân nầy là giả th́ thắng thua để làm ǵ. Ngày xưa có người Bà la môn đi theo chửi mắng Đức Phật rất thậm tệ. Hắn càng chửi th́ Đức Phật càng thản nhiên. Sau cùng hắn chạy theo la lớn:”Này Cù Đàm! Ông có điếc không? Sao ta chửi mà ông không đáp lại? Đức Phật ôn tồn đáp:”Nếu có người tặng quà mà người khác không nhận th́ món quà ấy thuộc về ai?” Ư Phật muốn nói là ông chửi th́ ông nghe vậy thôi. Ta chẳng hề quan tâm đến th́ đâu có phiền năo. Nh́n thân ḿnh là giả cũng không đủ mà phải nh́n tất cả chúng sinh và vạn hữu cũng đều mang ngũ uẩn giai không th́ tâm mới an được. Do đó mới có câu:
Vạn pháp giai không
Duyên sanh như huyển.
Nghĩa là:
Tất cả vạn hữu, từ động vật, thực vật, khoáng vật… trong vũ trụ là không thật, hay giả Có tức là Không. Ngay cả nhân duyên để tạo tác cũng giả luôn, không chắc không bền như là giấc mộng.
Nói tóm lại thân của ta là giả Có và tất cả vạn hữu chung quanh của ta cũng là giả Có. V́ thế cho dù cuộc đời có thăng trầm khi lên voi hay xuống chó th́ tất cả cũng chỉ nằm trong luật vô thường là thành, trụ, hoại, không mà thôi.
V́ vậy nếu được th́ cũng thế mà nếu mất th́ cũng không buồn bởi v́ tất cả là Không. Không giận, không hờn, không tham, không si th́ tâm sẽ an định, tức là Niết bàn và dĩ nhiên cuộc đời làm ǵ c̣n khổ ách. Đây chính là con đường Quán tự Tại Bồ tát thoát khỏi khổ ách để đạt Niết bàn.
Hằng
ngày có rất nhiều người tụng bộ Tâm Kinh
nầy. Có người c̣n tụng vài biến nữa là khác.
Thế
th́ tại sao chúng ta tụng thuộc làu, ngày mấy
biến mà chúng ta c̣n khổ hoài và khổ dài dài? Không
lẽ Phật nghe chúng ta tụng hằng ngày mà không
độ cho chúng ta hết khổ?
Cái tinh hoa cốt tủy của kinh Phật là phải hiểu ư nghĩa lời Phật dạy trong kinh. Tụng kinh hay đọc kinh là tụng cho ḿnh hiểu chớ không phải tụng cho Phật nghe. Khi đă hiểu ư kinh th́ phải đem những ư tưởng sâu sắc nầy ra tư duy quán chiếu để thấy cái hay, cái tuyệt của nó th́ ư kinh mới thấm vào tâm của chúng ta. Một khi đă thấm được rồi th́ giai đoạn sau cùng là đem nó ra áp dụng vào trong cuộc sống hàng ngày của ḿnh để đoạn trừ phiền năo và chứng đạt Niết Bàn. Có áp dụng lời Phật dạy vào trong cuộc sống thực tế th́ mới biết là lời Phật sâu sắc đến thế nào. Quư vị cứ nghĩ lời Phật dạy cũng như là toa thuốc của Bác sĩ. Nếu chúng ta không đem toa thuốc vào nhà thuốc tây để mua th́ làm sao biết được Phật cho ḿnh thuốc ǵ? Mua thuốc mà không uống th́ làm sao hết bịnh được? Do đó tiến tŕnh nầy nhà Phật gọi là Văn như Tư và Tư như Tu là vậy.
Có một câu chuyện ngụ ngôn của một tu sĩ Ấn Độ tên là Vivekananda như sau:
Một con sư tử có thai, gần ngày sanh, đang nằm đói xếp ve trong bụi rậm đă mấy ngày. Khi đó có một đàn cừu đi ngang qua. Sư tử mừng quá cố thu hết tàn lực lao ḿnh vào đàn cừu. Không ngờ v́ nhảy quá mạnh, sư tử bị sẩy thai và chết. Sư tử con được đàn cừu nuôi dưỡng cho đến lớn. Từ đó sư tử con sống đời sống của cừu, ăn th́ ăn cỏ c̣n kêu th́ be-he. Một hôm một con sư tử già đi kiếm mồi, khi gặp đàn cừu và vừa muốn ra tay th́ cả đàn hốt hoảng mạnh ai nấy chạy cho nhanh. Sư tử già rượt đuổi theo bỗng thấy trong đám cừu có một chú sư tử con. Tính ṭ ṃ sư tử già cố tâm t́m ra sự thật. T́nh cờ, một ngày nọ, sư tử già gặp chú sư tử con đang nằm ngủ một ḿnh gần khe suối. Nhót gót lại gần và để cho chú sư tử con không kinh hăi, sư tử già mới thủ thỉ vào tai chú sư tử con:
-Mày là sư tử, sao lại làm thói cừu con như vậy?
Chú sư tử con thức giấc, mở mắt thấy ông đầu x̣m, run lên như cầy sấy:
-Lạy ông tha cho, tôi chỉ là một cừu con vô tội.
Sư tử già bèn lôi chú sư tử con sát khe nước và nói:
-Mày thử ngó xuống nước coi!
Sư tử con hết sức kinh ngạc nghĩ thầm:
-Sao ḿnh cũng đầu bồm, cũng nanh nhọn, oai phong lẫm liệt như ông tướng nầy!
Nghĩ tới đây, sư tử con gầm lên một tiếng chuyển động núi rừng, rồi nhảy tuốt vào rừng sâu.
Tất cả chúng ta đều là sư tử mà v́ lầm tưởng ḿnh là cừu nên từ trước tới nay đă sống đời cừu. Hăy ngó xuống gịng sông Bát Nhă th́ chúng ta sẽ thấy ḿnh không phải là cừu phàm phu ngũ uẩn, đang sống trong sợ hăi ưu phiền mà là sư tử Phật tánh Chơn Không, chúa tể của sơn lâm vũ trụ. Nếu biết được cái Phật tánh Chơn Không nầy sẽ không c̣n phiền sợ nữa và đây chính là:” độ nhất thế khổ ách” vậy.
Ngày xưa khi đệ tử hỏi Ngài Mă Tổ thế nào là “tức tâm tức Phật” th́ Ngài đáp rằng:”Chỉ tiểu nhi đề”, có nghĩa là đừng khóc theo lối con nít nữa. Ư Ngài Mă Tổ là:”Bỉ trượng phu, ngă diệt nhĩ” có nghĩa Phật cũng là người, ta cũng là người, tại sao ta lại không có cái cao thượng của trượng phu mà lại xử sự như con nít. Có nghĩa là thấy bóng trong gương mà tưởng là sự thật rồi hoảng sợ la khóc. Thân là giả mà cứ tưởng là thật để phải chịu đau khổ chập chùng. Phật sở dĩ thành Phật là nhờ thấy đúng, tức là chánh tri, chánh kiến. C̣n chư Bồ tát sắp đạt đến ngôi Đẳng giác, tức là Phật, bởi các Ngài tu tập thấy đúng và cuối cùng thấy đúng cho tới mức triệt để.
Nhưng thế nào là thấy
đúng?
Theo kinh Phật như thị có nghĩa là vạn vật như thế nào th́ ḿnh phải thấy như thế ấy. Thấy trăng th́ phải nói là trăng chớ không nên nói là trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ. Đức Phật thấy việc đời và thế giới như thế nào th́ Ngài nhận y như thế ấy và không t́m cách giải thích theo óc tưởng tượng của Ngài. V́ thế Kinh mới có câu:”Như thị văn, như thị tri” có nghĩa là thấy như thế th́ biết như thế. Đây chính là chánh tri, chánh kiến bởi v́ Đức Phật không bao giờ gán cho sự vật những cái ư nghĩa, những cái giá trị mà tự chúng không có. Ví dụ như cảnh vật là cảnh vật th́ tại sao chúng ta lại bảo có cảnh vui, cảnh buồn? Như trong truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du có câu:
Cảnh
nào cảnh chẳng đeo sầu.
Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Con người v́ giàu óc tưởng tượng mà đem cái vui cái buồn của họ mà gán cho cảnh, chớ cảnh là vô tri vô giác th́ làm ǵ có vui, có buồn.
Ngay cả nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quang trong bài Thăng Long Thành Hoài Cổ cũng có câu:
Lối
xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền
cũ lâu đài bóng tịnh dương.
Trong bài Thu Viễn Xứ của thi sĩ Đông Mai có câu:
Ngập
ngừng từng trận lá rơi
Ai
đem lệ đá mà khơi lệ ḷng.
Vào đời nhà Đường có nhà thơ rất nổi tiếng là Đỗ Phú đă hạ bút trong bài Xuân Vọng:
Cảm thời hoa tiễn lệ
Hận biệt điểu kinh
tâm.
Dịch là:
Cảm
thời, hoa cũng lệ sầu
Chia
ly, chim cũng tim đau vạn trùng.
Cái nh́n của người Tây phương th́ cũng không khác với những tư tưởng Đông phương mấy. Ở Pháp gần hai thế kỷ về trước, thi sĩ Alphonse De Lamartine (1790-1869) cũng đă viết:
Objects inanimes, avez-vous donc unec âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer
Dịch là:
Hởi
cỏ đá! Phải chăng cũng có
Lưu
luyến t́nh khiến nhớ khiến nhung.
Đối với những nhà thơ th́ họ không nh́n cảnh vật là vô tri, vô giác mà họ nghĩ chúng có những rung cảm rất tế nhị mà con người chỉ có thể tiếp nhận được nếu tâm hồn chúng ta rung động cùng một nhịp điệu với nó mà có người gọi là thần giao cách cảm. V́ sự thấy biết ảo huyền như thế nên con người bị vọng tưởng sai khiến làm cho tâm điên bát đảo. Ngược lại chân lư của Đức Phật là Chánh kiến giúp con người t́m về với thật tướng của vạn vật.
V́ vậy chánh kiến là thấy đúng, tức là như thị. Hễ vạn vật như thế nào th́ phải thấy, biết như thế ấy. Đừng tô son, thép vàng và cũng đừng lên án, b́nh phẩm. Hơn nữa chủ yếu của Tâm Kinh là phải thấy thấu triệt cái Thật tướng của vạn vật. Mà Kinh Kim Cang đă nói:”Thật tướng là vô tướng”.
Tại
sao Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc.
Sắc tức là Không, Không tức là Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, thức cũng như vậy?
Khi thấy trên bàn có một b́nh hoa, b́nh hoa tức là Sắc. Nhưng chính thật b́nh hoa tự nó không có, tức là không có chủ thể mà là do nhân duyên ḥa hợp tạo thành, tức là Không. Thấy b́nh hoa trên bàn, tức là Sắc mà tự tánh lại là Không. Do đó Sắc không thể rời Không hay nói một cách khác là Sắc chẳng khác Không. Nhưng cái Không nầy không phải là không Có v́ thế chính cái Không của cái không thấy, tức là cái Không trong thế giới vô vi , để tạo thành cái Có của thế giới hữu vi. V́ thế Không phải dính liền với Sắc hay Không chẳng khác Sắc.
Sở dĩ mắt chúng ta thấy một vật ǵ không phải là chúng ta có mắt mới thấy được hay có vật tức là đối tượng để thấy. Nếu tự mắt có thể thấy được th́ tại sao người mới chết, hai mắt vẫn c̣n nguyên vẹn mà không thấy ǵ hết. C̣n nói cần có đối tượng mới thấy được th́ đối với người mù, cho dù thế giới bên ngoài màu sắc huy hoàng rực rỡ, nhưng họ có thấy ǵ đâu? Vậy cái ǵ làm cho chúng ta nhận thấy? Theo giáo lư nhà Phật th́ cái khả năng để nhận thấy được gọi là Kiến tánh, tức là tánh thấy (seeing nature). Kiến tánh th́ không thể diễn tả được v́ nó vô h́nh, vô tướng mà chỉ có thể suy nghiệm để biết mà thôi và nó là một khả năng, một đặc tính của cái Không trong Bát Nhă Tâm Kinh.
Nếu ví dụ tâm của chúng ta như một tấm gương th́ kiến tánh ví như ánh sáng của gương. Do đó khi chúng ta nói là thấy, thật ra không có cái thấy thật mà chỉ có vạn vật soi bóng vào tấm gương ḷng mà thôi, cũng như vạn vật soi bóng trong tấm gương thủy tinh. V́ thế cổ nhân mới nói:”Chiếu thể viên minh” là vậy. Do đó kiến tánh hay tánh thấy là kết quả của sự tương phản giữa kiến tánh và vật chất, có nghĩa là bên nầy chiếu qua bên kia rọi lại mới nẩy sanh cái mà chúng ta gọi là thấy.
Một thí dụ là cái TV trong nhà của chúng ta. Khi mở th́ trên màn ảnh có h́nh, có nghĩa là hể có h́nh tức là TV có khả năng tiếp nhận tín hiệu từ trong không gian rồi phản chiếu trở lại trên màn ảnh cho chúng ta xem. Khi tắt th́ không thấy h́nh, nhưng cái khả năng nhận những tín hiệu đâu có mất. Chỉ v́ chúng ta không thấy h́nh là tại chúng ta không mở TV chớ tín hiệu vẫn có sẵn trong TV. Tánh thấy th́ cũng thế, lúc nào cũng có trong ta do đó khi ta mở mắt, cũng như mở cái TV th́ sẽ thấy.
Vậy kiến tánh và sắc vật không thể tách rời nhau, tức là cái nầy nằm trong cái kia và cái kia nằm trong cái nầy. Khi chúng ta thấy có muôn vật, tức là thấy Sắc, có nghĩa là nhận biết có Kiến tánh. Vậy có kiến tánh là có muôn vật. Nhưng mà chúng ta đă thấy cái thể của kiến tánh là Không, mà Sắc vật kia nằm trong kiến tánh th́ dĩ nhiên phải cùng một thể là Không. V́ thế Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc là vậy. Cùng một lư luận đó con người chúng ta c̣n có 5 khả năng khác nữa là Văn tánh (tánh nghe), Khứu tánh (tánh ngữi), Thường tánh (tánh nếm), Giác tánh (tánh nhận cảm giác) và Tri tánh (tánh biết). Khi sáu tánh nầy phối hợp với sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư) tạo ra tâm của chúng ta. Tánh nghe, tánh thấy, tánh ngữi, tánh nếm, tánh nhận cảm giác và tánh biết không mất nên cùng một thể với hư vô mà có người gọi là Phật tánh. Chính cái Phật tánh nầy là ứng dụng của cái Tâm vào lục căn của con người để có thể tiếp xúc với ngoại cảnh, tức là lục trần.
Chúng ta có thể lấy thêm một thí dụ về tánh nghe (hearing nature), tức là Văn tánh. Khi tai chúng ta nghe được một âm thanh, có nghĩa là trong không gian mỗi làn sóng của âm thanh vang lên làm rung động cái “tánh nghe” rồi biến mất. Rồi những làn âm thanh khác tiếp theo vang lên rồi cũng mất. Âm thanh vang lên, rồi tan biến nhưng tánh nghe th́ không mất, tồn tại măi măi trong con người. Khi mở cái máy thu thanh th́ âm thanh phát ra khiến tai nghe được, có nghĩa là hể có âm thanh phát ra th́ tánh nghe tức th́ nhận lấy. Nhưng khi tắt cái máy th́ âm thanh biến mất nhưng khả năng nhận biết âm thanh vẫn c̣n, không thay đổi, có nghĩa là tánh nghe luôn luôn có sẵn vĩnh hằng trong chúng ta. Do đó khi có âm thanh th́ tánh nghe ḥa nhiệp với tai để thu nhập cái âm thanh đó và sau đó phân biệt tạo thành nhĩ thức, tức là sự biết của nghe. V́ thế khi nghe ai hát một bản nhạc th́ tánh nghe thu nhận âm thanh vào tai và phân biệt để cho tâm biết đây là bản nhạc hay hay dở, tràn đầy t́nh cảm hay khô khan như sa mạc mùa hè. Nếu tánh nghe mất th́ con người vĩnh viễn sẽ bị điếc, cũng như cái gương c̣n đó, vật c̣n đó mà bóng gương tan vỡ th́ cái gương không bao giờ phản chiếu hay thấy được vật thể nầy.
Khi thấy những làn sóng biển nhấp nhô, chúng ta cứ lầm tưởng rằng những làn sóng kia là một thực thể riêng biệt và thực có. Nhưng những làn sóng chỉ là dụng hay tướng của thể nước mà thôi chớ thật chất nó không có. Nói một cách khác những làn sóng nước mà chúng ta thấy là Sắc tức là h́nh dáng bên ngoài c̣n nước dưới đáy biển yên lặng là cái thể của nước mà chúng ta thấy không được, tức là Không. Nhưng sóng nước và nước cũng chỉ là nước mà thôi. Do đó sóng nước là Sắc không khác thể nước là Không. V́ thế Sắc chẳng khác Không. Bây giờ nếu chúng ta nh́n kỹ muốn có sóng nước th́ phải có nước dưới đáy biển trước khi gió tạo thành những làn sóng cao, thấp nhấp nhô. V́ vậy nước dưới đáy biển là thể tức là Không để tạo thành những làn sóng, tức là Sắc. V́ thế Không và Sắc không thể rời nhau hay Không chẳng khác Sắc là như vậy.
Chúng ta
đă biết cái Có, tức là ngũ uẩn là do cái Không mà
ra th́ Không chính là căn bản, là cội nguồn, là
bản thể của cái Có. Nói một cách khác là nếu
không có cái Không th́ dĩ nhiên không bao giờ có cái Có và
ngược lại một khi có cái Có là v́ có cái Không. V́
thế kinh mới có câu:”Sắc
tức là Không và Không tức là Sắc”.
Chẳng hạn như khi nh́n chiếc xe mới đẹp lộng lẫy bên đường. Chiếc xe mới nầy chính là Sắc, nhưng chiếc xe không tự nó tạo nên được mà cần phải do bao nhiêu nhân duyên mới tạo thành. Mà đă là do nhân duyên kết hợp th́ nó là vô ngă tức là Không. Thế th́ cái xe là có mà tự tánh là Không cho nên Tâm Kinh mới nói Sắc tức là Không. Mặc dầu không tự tánh, không chủ tể, nhưng do nhân duyên hợp lại để tạo thành cái xe mà chúng ta thấy. Cái xe là Có, tức là Sắc. V́ vậy bây giờ Không tức là Sắc.
Một thí dụ khác là khi chúng ta thấy một tấm thép rất rắn chắc hay một viên kim cương th́ chúng cũng không hoàn toàn là Sắc. V́ nếu nh́n từ h́nh thể bên ngoài tức là Tướng của chúng th́ không ai dám phủ nhận chúng là những khối đặc và rắn chắc. Nhưng bên trong chúng được cấu tạo bởi những nguyên tử. Cấu trúc của mỗi nguyên tử tuy khác nhau tùy theo hóa chất của nó nhưng tựu trung th́ mỗi nguyên tử được tượng trưng như là một cái hộp mà các âm điện tử rất nhỏ chạy quay cuồn chung quanh cái hộp c̣n ở chính giữa tâm là dương điện tử và trung ḥa tử th́ cố định và có kích thước tương đối lớn hơn âm điện tử nhưng vẫn rất nhỏ so với kích thước của cái hộp. Do đó nếu viên kim cương nh́n từ bên ngoài th́ rất rắn chắc nhưng từ bên trong th́ những nguyên tử than (Carbon) nầy gần như trống rỗng mà nhà Phật gọi là Không. Nhưng cái Không không thể nào tách rời cái Sắc được v́ thế không có ǵ là toàn Sắc và cũng chẳng có ǵ là toàn Không. Như thế th́ Sắc tức là Không và Không tức là Sắc.
Khi đă biết Sắc uẩn như thế th́ bốn uẩn khác là Thọ, Tưởng, Hành, Thức th́ cũng cùng một lư luận. Tại sao? Tại v́ có thân là sắc mới sinh ra cảm giác, tư tưởng, suy nghĩ và hay biết. Nay thân, tức là Sắc là Không th́ bốn cái tùy thuộc kia của thân cũng là Không luôn. V́ thế mà kinh nói: Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị, tức là cũng như vậy.
C̣n câu:” Này Ông Xá Lợi Phất! Tướng “Không” của mọi pháp, không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt” th́ như thế nào?
Như
phần trên đă nói là khi Quán Tự Tại Bồ tát đă
đạt đến chỗ sáng suốt triệt
để rồi th́ soi thấy cái thể của ngũ
uẩn là Không. Mà ngũ uẩn ở đây ư nghĩa bao
gồm cả “vạn pháp” là muôn sự, muôn vật trong
vũ trụ nầy. Một khi đă thấy cái thể, tức
là chỉ thấy cái tướng bề trong, tức là
Chơn Không th́ không c̣n thấy cái tướng bề ngoài do
ngũ uẩn hay vạn pháp hợp thành. V́ thấy rơ
được như thế nên tất cả các
tướng đều là Thực tướng của cái
thể “sáng chiếu Chơn Không”. Nguyên văn câu kinh là:”Tác liễu nhất thiết
tướng, giai thị chiếu thể Chơn không chi
thực tướng”. Vậy
tướng Không của tất cả vạn hữu là
thực tướng của Chơn Không.
Từ đó mà ra th́ vạn pháp tuy có cái bề ngoài vật chất, dơ dáy, không trong sạch, nhưng bề trong chính là Thực tướng, là Chơn không, là Phật tánh, là cái ǵ hết sức thiêng liêng, trong sáng, thường c̣n bất biến. V́ thế cổ nhân mới có câu:”Nhứt thế sắc giai thị Phật sắc, nhứt thế thanh giai thị Phật thanh”, có nghĩa là tất cả h́nh tướng đều là h́nh tướng Phật, tất cả âm thanh đều là âm thanh Phật. Trong kinh Lăng già cũng viết:”Xúc mục vô phi thị Phật”, có nghĩa là những ǵ chạm đến mắt ta, không ǵ là không Phật.
Nói tóm lại cái “tướng không” mới là cái “tướng thật” của vạn vật mà thật tướng là chơn thể th́ làm ǵ có sanh, có diệt, có dơ, có sạch hay có thêm, có bớt. Thêm nữa cái thể chân thật hay tướng không của vạn vật cho dù trải qua không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp trong quá khứ vẫn không t́m ra đâu là đầu hay là đi đến chỗ cùng tận của vị lai cũng không t́m đâu là cuối. Xưa sao th́ nay vậy, đồng y như một, không hề lay động, không biến không hư.
Ngày nay nếu chúng ta xem ḍng điện là thể, tức là Tướng không hay c̣n gọi là Chơn Không hay thực tướng và ánh sáng của ngọn đèn điện là Tướng, tức là ngũ uẩn hay giả tướng. Khi ta mở th́ electron di chuyển tạo ra ḍng điện làm đèn cháy, tức là ánh sáng sanh. Nhưng khi ta tắt, các electron không di động làm đèn tắt, tức là ánh sáng diệt. Cho dù chúng ta có mở hay tắt th́ thể điện vẫn luôn lưôn nằm trong dây, trước sau như một, không sanh không diệt, không thêm không bớt. C̣n cái ánh sáng mà chúng ta thấy bề ngoài th́ dĩ nhiên có sanh có diệt, có tăng có giảm. V́ thế nếu chúng ta có thể thấy được cái sự thật bề trong, tức là cái thể của ánh sáng là điện th́ chắc chắn thể điện, tức là tướng không sẽ không sanh, không diệt.
Bây giờ hay so sánh thân tâm ngũ uẩn của chúng ta cũng như ánh sáng của ngọn đèn. Ánh sáng của ngọn đèn mà chúng ta thấy được là do cái thể điện, tức là Không mà hiện ra tướng, có nghĩa là Sắc. C̣n thân tâm của chúng ta là Sắc th́ cũng do cái Chơn thể, tức là Không mà hiện ra tướng. Trong kinh Phật th́ Chơn thể c̣n được gọi là Diệu hữu Chơn không, cũng chính là Chơn tâm, là Phật tánh, là Pháp thân không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm không bớt.
Triết lư nầy Đức Phật đă nói ra trên mấy ngàn năm mà hiện nay có nhiều triết gia Tây phương cũng phát biểu rằng:”Vật chất là tinh thần, tinh thần là vật chất, không thể chia ĺa ra được”. Vật chất là vạn hữu, c̣n tinh thần là Chơn thể, là Chơn không của Đạo Phật. Thấy được vật chất là hiện tướng của tinh thần có thể cho chúng ta một nhăn thức mới đó là tư tưởng Đông Tây rất ḥa hợp cho dù tư tưởng nầy chính Đức Phật đă khai thị mấy ngàn năm trước Tây phương.
Bây giờ
hăy t́m hiểu câu:”Cho nên trong ”tướng Không” không
có Sắc, không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có
mắt, tai , mũi, luỡi, thân, ư; không có Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc, Pháp; không có nhăn giới cho
đến không có ư thức giới; không có vô minh cũng
không có cái hết vô minh; cho đến không có già chết,
cũng không có cái hết già chết; không có khổ, tập,
diệt, đạo; không có trí tuệ cũng không có
chứng đắc”.
Đoạn kinh nầy tương đối hơi dài nên chúng ta có thể chia làm hai đoạn.
1) Phá chấp ngă: đây là phần chỉ về câu:”cho nên trong tướng Không không có Sắc, không có Thọ, Tưởng, Hành Thức”. Con nguời v́ si mê nên cứ tưởng thân tâm nầy là thật Có, có nghĩa là chấp ḿnh có một cái Ta riêng biệt trong vũ trụ nầy. Nhưng phần trên chúng ta đă chứng minh ngũ uẩn là Không th́ trong ta làm ǵ có cái Ta. Mà ngũ uẩn chính là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thêm nữa, Không tướng tức là bản thể bất sanh bất diệt, bất tăng bất giảm của vạn vật. Khi đă đạt đến mức sáng suốt triệt để, tức là Bát Nhă ba-ma-mật, th́ phải thấy ngũ uẩn là Không. Thật vậy, Không tướng tức là Chơn không, là cái Thể của vạn vật. Mà đă là Thể th́ không sao có cái tướng hay Sắc được cho dù Thể không khác Sắc. Nay trong” Tướng không” không có Sắc th́ làm ǵ có những cái tùy thuộc của Sắc là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Khi đă đạt được đến cái Thể, là đến chỗ tuyệt đối. Do đó khi thấy ngũ uẩn không thật Có th́ tự chúng ta có thể phá được cái chấp ngă là thấy ḿnh không có cái Ta để dẫn dắt con nguời khỏi phải sống một cuộc đời mê muội cũng v́ cái Ta nầy.
Một khi đă đi sâu vào cái sáng suốt triệt để, có nghĩa là hành thâm Bát Nhă Ba-la-mật, th́ sẽ trở thành nguời có trí tuệ. Nhưng cái trí tuệ nầy có được là nhờ tâm đă định. Nguời mà sống trong định th́ chẳng khác nào như con rùa rút đầu vào vỏ. Cuộc sống của họ chỉ nh́n vào bề trong và chỉ biết cái ǵ bên trong mà thôi. C̣n vạn vật bên ngoài, kể luôn cái vỏ, đối với họ là những cái ǵ đă tiêu tan mất tích từ lâu. Lối sống nầy cổ nhân gọi là:”dĩ tự tánh tự chiếu”, có nghĩa là tự lấy gương ḷng của ḿnh mà tự soi ḷng ḿnh. Hay nói một cách khác, họ đem hết cái sáng suốt của trí tuệ mà soi ngược vào ḷng ḿnh để tự biết lấy ḿnh. Do đó khi làm cái việc hồi quang phản chiếu nầy th́ con nguời không có th́ giờ và trí óc để suy nghĩ đến cái thân xác thịt hoặc những t́nh cảm do thân tiếp xúc với ngoại cảnh mà phát sanh, tức là ngũ uẩn. Không sống cho ngũ uẩn tức là không nộ lệ cho cái Ta và từ đó con nguời sẽ không c̣n lệ thuộc vào cái ngă nữa hay nói một cách khác là chúng ta có thể phá được cái chấp ngă rồi.
Thêm nữa có chấp ngă là bởi v́ chúng ta thương yêu cái ngă của ḿnh. Thương yêu cái ngă th́ nhà Phật gọi là ái ngă. Có nghĩa là bất cứ cái ǵ mà hợp với ḿnh th́ ḿnh yêu thương, ǵn giữ, c̣n cái ǵ không hợp với ḿnh th́ ḿnh chê, ḿnh ghét. Thử nghĩ lại xem có ai chửi ḿnh mà ḿnh thương họ không? Dĩ nhiên là ḿnh phải ghét họ. Ghét là v́ cái ngă ghét mà ḿnh chạy theo ngă nên ḿnh cũng ghét theo. Đôi khi chúng ta nói sai, làm bậy mà có người sữa th́ chúng ta nổi giận đùng đùng.
Thử nghĩ lại có bao giờ mà chúng ta làm việc sai hay nói không đúng mà chúng ta điềm tỉnh hài ḥa khi có nguời chỉ trích chúng ta? Có bao giờ chúng ta biết ơn kẻ đă chỉ chỗ sai quấy cho ḿnh sữa đổi để trở thành người tốt hay là chúng ta oán hận họ? Tất cả cũng từ cái ái ngă mà ra. Bởi ái ngă cho nên nếu ai động tới ngă là chúng ta bừng bừng nổi giận. C̣n ai tâng bốc ngă th́ ḿnh ưa, ḿnh thích. Bởi v́ có bản ngă cho nên hễ đụng chạm nhau th́ sẽ sanh ra thù nghịch, không ai nhịn ai cả.
V́ vậy cho nên v́ bản ngă mà chúng ta phải nếm mùi khổ đau và v́ muốn bảo vệ bản ngă mà chúng ta luôn tạo nghiệp. Ta th́ lo bảo vệ bản ngă của ta c̣n người khác th́ bảo vệ bản ngă của họ cho nên đời nầy tan th́ đời khác đến nghiệp nối đuôi chồng chất măi không thôi. Mà càng tạo nghiệp th́ càng lún sâu trong ṿng luân hồi sanh tử. Khi đă biết ngũ uẩn là Không, tức là thân tâm nầy là Không th́ chúng ta không bám vào cái ngă tứ đại giả hợp nầy nữa. Không bám vào tấm thân tứ đại tức là không bám vào cái thương ghét. Không c̣n thương ghét tức là không chạy theo bản ngă th́ tâm sẽ trở thành thanh tịnh, b́nh đẳng để không c̣n tạo nghiệp. Không tạo nghiệp là con nguời không c̣n khổ và vĩnh viễn chặt đứt dây luân hồi.
Nếu có người tu hành mà khoe nay chứng cái nầy, mai đắc cái kia th́ đó là hiện thân của bản ngă. Hễ c̣n dính vào bản ngă tức là phàm phu mà đă là phàm nhân th́ không bao giờ là Thánh được. Kinh Phật có câu:”Không thấy có pháp A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề để đắc”, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ kư cho Đức Thích Ca Mâu Ni thành Phật. Do đó nếu ai khoe là chứng quả Thanh văn hay Bồ tát…th́ đó là tướng của ma quái chớ không phải của người tu hành chân chính. Đời nay có người tu hành mà thích khoe có cấp bằng Tiến sĩ nầy hay Thạc sĩ nọ hay là danh xưng thế nầy, thế kia th́ cái ngă c̣n quá lớn bởi v́ người tu theo đạo Phật là càng tu cao th́ cái ngă càng thấp. C̣n cái ngă càng cao th́ sự tu hành chưa tới đâu cả.
Nói chung người yêu đời là người lăn ḿnh trong xă hội, lăn ḿnh trong chỗ nhiễm ái hay lăn ḿnh để xây dựng. C̣n người chán đời là người gặp nhiều thất bại trong cuộc đời bởi v́ chí cả không thành, công danh trắc trở, t́nh duyên ngang trái…Do đó kẻ yêu đời là người chạy theo tham đắm lợi danh tức là nộ lệ cho bản ngă, C̣n người chán đời là kẻ oán ghét thế gian th́ cũng là nô lệ cho cái bản ngă mà thôi. Chính những người không yêu không ghét, tâm thanh tịnh mới thật là người không chạy theo bản ngă. Vô ngă chính là tâm của Bồ tát vậy. Khi các Ngài vào thế gian để độ chúng sinh th́ tâm rất b́nh đẳng. Không c̣n chấp ngă, chấp pháp. Làm việc v́ lợi ích cho chúng sinh chớ không phải lợi ích cho ḿnh. Khi đă hiểu vạn pháp giai không, duyên sanh như huyễn th́ trên đời nầy có cái ǵ là thật Có đâu mà phải bận tâm.
Ngày xưa Ngài Thần Tú là đại đệ tử của ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, khi làm bài kệ:
Thân là cây Bồ-đề (chấp tướng)
Tâm như đài gương sáng (lại chấp có tướng)
Luôn luôn phải lau chùi (chấp có tu là chấp ngă)
Chớ cho dính bụi trần (chấp là ḿnh chứng đạo).
Liền bị ngũ Tổ quở là kiến thức:”c̣n đứng ngoài hàng rào” v́ Ngài Thần Tú c̣n quá chấp, tức là không hiểu được ư nghĩa sâu xa của tuệ giác Bát Nhă.
Nhưng khi biết Lục Tổ Huệ Năng có kiến thức thâm sâu và là cao tăng đắc đạo th́ Ngài Thần Tú mới nói với đệ tử rằng:”Ngài Huệ Năng là người đă được thầy ta ấn chứng, kiến thức đă quá hơn ta. Tiếc v́ ta đă già và mang ơn quốc vương quá nặng nên không đi tới đó học được, vậy các ngươi thay ta tới đó học hỏi rồi đem về nói lại cho ta nghe”. Đủ biết là một người trong quá khứ đă quá chấp ngă mà sau đó v́ đạo pháp mà phá được cái chấp ngă của ḿnh. Biết người giỏi hơn mà không ghét th́ cái ngă đâu c̣n. Thật đáng khen! Càng tăng trưởng cái ngă của ḿnh th́ càng đi ngược lại con đường giải thoát giác ngộ.
Nếu dẹp được ái ngă th́ Tham-Sân-Si cũng theo thời gian mà tiêu tan. V́ thế Đức Phật dạy chúng sinh lúc nào cũng phải xét cái ngă của ḿnh. Cái ngă về thân vốn chẳng Có. Cái ngă về thân nó không thật v́ tứ đại là do ngũ uẩn ḥa hợp tạo thành mà ngũ uẩn là Không thật Có. Chính thân đă không thật th́ yêu ghét không c̣n. Cho nên muốn dứt thương ghét th́ phải phá cái ngă trước. Ngă mà bị phá rồi th́ thương ghét cũng chẳng c̣n. V́ thế con người mới có thể t́m lại cuộc sống an vui tự tại trong đời nầy.
Trong Kinh A Hàm có bài kệ ghi lúc Đức Phật vừa đản sanh:
Thiên thượng thiên hạ
Duy
ngă độc tôn
Nhất
thiết thế gian
Sinh
lăo bệnh tử.
Dựa theo Kinh A Hàm của Phật giáo nguyên thủy th́ bốn câu trên có nghĩa là trên trời dưới thế chỉ có Phật là hơn hết. Nhưng đây không phải là đề cao cái ngă của Đức Phật. Tại sao? V́ trong tất cả thế gian th́ Đức Phật đă qua khỏi sanh, già, bệnh, chết. Đó chính là cái hơn theo tinh thần nguyên thủy. C̣n theo tư tưởng của đại thừa phát triển th́ đi thẳng vào cái ngă của Pháp thân chớ không phải là cái ngă của sắc thân Đức Phật. Bởi v́ ngă của thân tứ đại ngũ uẩn là vô thường sanh diệt. V́ thế vô ngă là không có cái ngă của tứ đại ngũ uẩn, nhưng Pháp thân là thể bất sanh, bất diệt cho nên Pháp thân là trên hết. Do đó cái ngă mà dựa theo tư tưởng đại thừa chính là cái ngă Pháp thân. Mà nếu chúng sinh muốn được giải thoát sinh tử th́ bắt buộc phải giác ngộ được Pháp thân. Như vậy câu nói đó không phải đề cao cái ngă như mọi người hiểu lầm bấy lâu nay.
Ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng có nói rằng:”Nếu là người tu đạo chân thật th́ không thấy lỗi lầm của người khác trong thế gian”. Cái khó trong thế gian nầy là lúc nào con người cũng thấy lỗi của người mà không nh́n lại lỗi của ḿnh. Nếu tin vào luật nhân quả th́ người khác có làm cái ǵ hay làm thế nào th́ cũng có nhân quả riêng cho họ. Nhân quả của người khác th́ chúng ta không thể nhận chịu thay thế cho họ mà quan trọng nhất là chú ư đến nhân quả của ḿnh. Có gây nhân th́ phải nhận lấy quả báo. Đến khi nào chúng ta không thấy lỗi của người khác mà chỉ thấy lỗi của ḿnh th́ chúng ta sẽ thành công. Công phu của quư vị sẽ đắc lực và chắc chắn quư vị sẽ gặt hái rất nhiều lợi ích chân thật.
2) Phá chấp pháp: trong phần nầy Tâm Kinh giới thiệu về thế gian và xuất thế gian pháp. Thế gian pháp là nói về các pháp sinh diệt trong vũ trụ nầy. C̣n xuất thế gian pháp là nói về phương cách giải thoát giác ngộ để đưa con nguời ra khỏi tam giới, không c̣n phiền năo khổ đau.
- Phá chấp pháp của Thế
gian pháp: Đây là
đoạn nói về:”không có mắt, tai, mũi, thân và ư;
không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhăn
giới cho đến không có ư thức giới”.
Tạm dịch là:”Cho nên trong tướng Không, không
có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư; không có h́nh sắc,
âm thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp; không
có cảnh giới của cái biết bằng mắt, cho
đến cảnh giới của cái biết bằng ư
cũng không”.
Xin nhắc lại lục căn của con nguời th́ gồm có ngũ quan, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và quan thứ sáu là ư. Căn ở đây có nghĩa là cơ quan. C̣n Trần là bụi, ám chỉ những cái ǵ làm mờ tâm cảnh, tức là tấm gương ḷng của con nguời. Trần ở đây bao gồm cả vạn vật trong trời đất, có thể là hữu t́nh hay vô t́nh mà nhà Phật gọi chung là Sắc. Chữ Sắc nầy rộng nghĩa hơn là chữ Sắc trong ngũ uẩn, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chữ Sắc của vạn vật trong vũ trụ có thể chia làm ba loại:
v Loại tiếp xúc và thấy được (Khả đối khả kiến): Đó là những h́nh dáng và màu sắc có thể dùng mắt mà tiếp xúc và nhận thấy. Đây là loại nói về tất cả những ǵ hoàn toàn về vật chất mà chúng ta gọi là chữ Sắc trong ngũ uẩn.
v Loại tiếp xúc được mà không thấy được (Khả đối bất khả kiến): Tức là âm thanh, các thứ mùi, các thứ vị và các thứ cảm giác.
v Loại không tiếp xúc mà cũng không thấy được (Bất khả đối bất khả kiến): Đây là những h́nh sắc, mùi vị, cảm giác mà chúng ta nhận biết và cảm thọ trong thâm tâm. Chẳng hạn như khi chúng ta tưởng tượng mà thấy có nhà, có xe, có ăn, có uống hay là những cái biết do tâm phân biệt mà có. Tất cả những cái biết từ trong nội tâm th́ ngũ quan không tiếp xúc được mà nhà Phật gọi tất cả những cái Sắc thuộc loại bất khả đối bất khả kiến nầy là “pháp”.
Sau cùng là Thức. Thức có nghĩa là biết. Chẳng hạn như có những cái biết bằng mắt th́ gọi là thấy hay có những cái biết bằng tai th́ gọi là nghe…V́ chúng ta có sáu căn nên có sáu cái biết mà nhà Phật gọi là sáu thức. Đó là nhăn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức.
Nếu
đem tổng hợp ba cái Căn, Trần, Thức lại
với nhau th́ chúng ta có được toàn thể vũ
trụ sắc pháp hay thế gian pháp, tức là thế
giới của hiện tượng.
Bây giờ chúng ta hăy lấy con mắt, tức là nhăn căn làm đối tượng để phân tích. Một khi thấu hiểu được nhăn căn th́ năm căn kia cũng thế mà thôi.
Ai ai
cũng biết là mắt dùng để thấy. Nhưng
để thấy cái ǵ? Tất cả những
vật ǵ có h́nh dáng và màu sắc th́ mắt có thể
thấy được. Như thế th́ mắt chỉ có
thể thấy được vật thể và màu sắc
trong một phạm vi giới hạn mà chúng ta tạm
gọi là cái Giới của Sắc và cái giới nầy
chỉ dành riêng cho mắt mà thôi. Không một căn nào khác
có thể xâm lấn nó được. V́ thế cái giới của mắt thấy th́
được gọi là nhăn giới, có nghĩa là cảnh
giới của cơ quan thấy. C̣n những vật
để cho cơ quan ấy thấy, chẳng hạn
như h́nh dáng, màu sắc…hợp thành một lănh vực khác
hay một giới khác mà chúng ta gọi là giới của
những vật bị thấy hay để cho thấy.
Nếu
mắt có thấy th́ phải có vật hay đối
tượng để mắt thấy chẳng hạn là
h́nh sắc hay vật thể…th́ sau đó sự thấy
sẽ nảy sinh ra một cái biết thuộc về
loại thấy. Cái biết nầy chính là Nhăn thức.
Tất cả những cái biết về loại thấy
nầy hợp lại thành một thế giới của
những cái biết bằng mắt mà nhà Phật gọi là Nhăn Thức Giới.
Nói tóm lại đối với cái thấy chúng ta có ba giới, đó là:
v Một thuộc về căn tức là Nhăn giới.
v Một thuộc về trần tức là Sắc giới.
v Một thuộc về thức tức là Nhăn thức giới.
Cái thấy th́ như thế c̣n tất cả cái nghe, cái ngữi, cái nếm, cái cảm xúc hay cái ư th́ cũng thế.
Thí dụ như cái nghe cũng có ba giới, đó là:
Ø Một giới thuộc về căn tức là Nhĩ giới.
Ø Một giới thuộc về trần tức là Thanh giới.
Ø Một giới thuộc về thức tức là Nhĩ thức giới.
Để dễ dàng thấu rơ chúng tôi xin lược kê tất cả thập bát giới hay 18 giới như sau:
6 giới của Căn: Nhăn giới, Nhĩ giới, Tỷ giới, Thiệt giới, Thân giới và Ư giới.
6 giới của Trần: Sắc giới, Thanh giới, Hương giới, Vị giới, Xúc giới và Pháp giới.
6 giới của Thức: Nhăn thức giới, Nhĩ thức giới, Tỷ thức giới, Thiệt thức giới, Thân thức giới và Ư thức giới.
Nếu cộng 6 giới của Căn, 6 giới của Trần và 6 giới của Thức th́ chúng ta có tất cả 18 giới mà thường được gọi là thập bát giới.
Thập bát giới nầy có thể bao hàm toàn thể thế giới vũ trụ, hay nói một cách khác là chính cái thập bát giới nầy chi phối toàn thể những ǵ mà chúng ta thấy biết, nghe biết, ngữi biết, nếm biết, cảm xúc biết và do tâm ư biết trên thế giới hiện nay hay cho cả vũ trụ nữa.
Bây giờ chúng ta trở lại với “cái thấy”. Có ba đối tượng liên quan đến cái thấy mà chúng ta cần phải biết. Đó là:
· Có mắt mà không có vật, màu sắc hay đối tượng th́ không thành cái thấy.
· Có vật hay đối tượng mà không có mắt th́ cũng không thành cái thấy.
· Có mắt có vật mà không có tánh thấy, tức là kiến tánh th́ cũng không thành cái thấy.
Do đó muốn có cái thấy th́ phải bao gồm tất cả ba món trên, tức là phải có mắt, phải có vật và cuối cùng phải có tánh thấy th́ cái thấy mới thành tựu được.
Trong Tâm Kinh
có viết:”không có nhăn giới
cho đến không có ư thức giới”. Đây là lối
nói vắn tắt của Kinh mà thôi chớ thật ra
mỗi lối biết có một cảnh giới riêng th́ Tâm
Kinh phải nói đầy đủ là:”không có nhăn thức giới, nhĩ thức giới,
tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân
thức giới và cũng không có ư thức giới”.
Nhưng ở phần trên chúng ta đă chứng minh rằng:”Sắc tức là Không” mà Sắc chính là vật bị thấy đă là Không, tức là Thể, th́ mắt, tức nhăn căn và nhăn thức cũng Không luôn. Tại sao? Bởi v́ trong bộ ba: Căn, Trần và Thức nếu có một cái là Không th́ cả ba đều Không như nhau.
Cùng một lư luận như trên th́ năm căn c̣n lại là mũi, tai, lưỡi, thân và ư hợp với năm trần c̣n lại là thanh, hương, vị, xúc và pháp cùng với năm thức là nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức cũng đều là Không.
Thêm nữa, thân tâm con nguời ta, tức là ngũ uẩn, đă biết là Không th́ tất cả những ǵ liên quan đến nó theo ngoại giới cũng đều là Không. Nói một cách khác là tất cả thập bát giới của vũ trụ cũng đều là Không. Do đó vũ trụ 18 giới thuộc thế gian pháp là Tướng c̣n Không là Thể. Mặc dầu chúng ta đă biết tướng là do thể biến hiện ra, tức là cái Có từ cái Không mà ra, nhưng trong Thể chắc chắn không bao giờ có chứa cái Tướng.
Nói một cách tổng quát là tất cả mọi sự vật trên thế gian nầy đều do tâm niệm của chính chúng ta h́nh thành. Điều đó có nghĩa là nếu chúng ta nghĩ Có th́ nó Có c̣n chúng ta nghĩ Không th́ nó sẽ là Không. Do đó mới có câu:”Tâm có sanh th́ pháp mới sanh, c̣n tâm diệt th́ pháp cùng tâm cũng diệt”. Chẳng hạn như hai chị em cùng rủ nhau đi chợ. Khi đến chợ th́ nguời chị quan sát, ngắm nh́n và hỏi han từ món nầy đến món khác. Thấy vật nào đẹp th́ nguời chị đưa lên xem, trầm trồ khen đẹp và hỏi giá cả là bao nhiêu trong khi nguời em đi th́ đi theo mà chẳng ngắm nh́n hay chú ư đến bất cứ vật ǵ. Tại sao hai chị em cùng cha cùng mẹ mà một nguời lại ṭ ṃ thắc mắc đủ điều c̣n nguời kia lại thờ ơ như thế? Hay là nguời em là nguời “không tâm” mà nhà Phật gọi là “vô Tâm”? Đối với nguời chị th́ vạn vật trên đời nầy là thật Có. C̣n đối nguời em th́ có lối nh́n trái ngược. Những thứ mà nguời chị thấy là thật Có th́ nguời em thấy là Không, tức là giả Có mà thôi nên cô ta chẳng cần quan tâm chú ư. Thấy là để thấy vậy thôi chớ trong cái thấy đó không có nhăn thức giới, có nghĩa là không có cái biết của sự thấy, tức là không có sự phân biệt tốt xấu. Không phân biệt th́ tâm không sanh vọng tưởng, tức là họ đang sống với cái chơn tâm thanh tịnh, cái Phật tánh sáng suốt muôn đời. Dựa theo Tâm Kinh th́ muốn đạt đến trí tuệ sáng suốt triệt để, tức là bát nhă ba-la-mật, th́ chẳng những thấy vật thể là Không mà tất cả 18 thế gian giới cũng đều là Không. Đây chính là cái Không của Quán Tự Tại Bồ tát vậy.
Vậy muốn phá cái chấp của thế gian pháp th́ Tâm Kinh dạy một khi nội tâm đă lóng trong th́ chúng ta chỉ c̣n thấy cái bề trong, tức là Thể, của vạn vật mà không c̣n thấy cái bề ngoài, tức là tướng, có nghĩa là Không. V́ thế cho dù có giàu sang quyền thế, dinh thự nguy nga, tiền rừng bạc biển, ăn sang mặc sướng đi chăng nữa th́ tất cả những cái nầy đều là Không. Cho nên trong ḷng Bồ tát luôn thấy vạn vật là Không cho nên họ mới được tự tại, không c̣n phiền năo khổ đau. C̣n chúng ta thấy vật đẹp là Có, thấy nhà sang là Có, thấy đàn ngọt hát hay là Có cho nên chúng ta c̣n khổ, c̣n phiền năo cũng v́ lấy giả làm chân, tức là lấy Không làm Có vậy.
Đến đây th́ chẳng những cái thân tâm ngũ uẩn đă chết đối với Bồ tát mà luôn cả vũ trụ cũng chết luôn. Tâm hồn của họ sống ung dung tự tại trong cảnh vô vi và ngao du trong cơi vô cùng vô tận như mây như gió. Có phá tan được cái say đắm của sự vật ở thế gian nầy th́ Bồ tát mới thật sự phá được tất cả những chấp pháp của thế giới hữu vi này vậy.
-
Phá chấp pháp
của Xuất thế gian pháp: đây là đoạn nói
về:”không có vô minh, cũng
không có cái hết vô minh, cho đến không có già-chết,
cũng không có cái hết già-chết; không có khổ, tập,
diệt, đạo; không có trí-huệ cũng như không có
chứng đắc”.
Chúng ta tạm chia đoạn Kinh nói trên thành ba phần:
· Không có sự khổ, không có nguyên nhân gây ra sự khổ, không có sự diệt khổ và cũng không có con đường dẫn đến sự diệt khổ, tức là Niết Bàn. Đây là phủ định chân lư Tứ diệu đế.
· Không có vô minh cũng không có cái hết vô minh, thậm chí không có cái già-chết và cũng không có cái hết già-chết. Đây chính là phủ định chân lư Thập Nhị Nhân Duyên.
· Không có trí tuệ và cũng không có chứng đắc được cái ǵ. Đây là phủ định chân lư Lục Độ Ba-la-mật.
Tại
sao đoạn Kinh trên được xếp vào loại
xuất thế gian? Đức Phật v́ thấu
rơ nổi thống khổ của tất cả chúng sinh
trong đời nầy nên Ngài mới quyết tâm xuất
gia t́m đạo để cố t́m cho ra chân lư mà dẫn
dắt chúng sinh ra khỏi biền trầm luân khổ năo.
Khi thành đạo th́ Ngài t́m ra được ba từng
giáo pháp để dạy tất cả chúng sinh dựa theo
đó mà tu hành để có một nếp sống phi phàm.
Đó chính là nếp sống của các bậc Thánh. V́
thế phương pháp tu hành để chuyển phàm thành
Thánh th́ được gọi là xuất thế gian.

Ba
từng giáo pháp đó là: Tứ diệu đế, Thập
nhị Nhân Duyên và Lục độ ba-la-mật.
TỨ
DIỆU ĐẾ
Là bốn
chân lư nói về sự khổ và diệt khổ để
đạt được thanh tịnh Niết Bàn.
Tâm Kinh viết
rằng:”không có khổ, tập, diệt, đạo”
là lối viết tắt, nhưng thật ra nguyên câu là:”không có Khổ đế, Tập
đế, Diệt đế và Đạo đế”.
Hay nói một cách khác là không có Tứ Diệu đế. Nếu
nói một cách chính xác và đầy đủ theo Tâm Kinh là
:”Thị cố Không trung, vô
Khổ đế, vô Tập đế, vô Diệt
đế, vô Đạo đế”.
Sau khi thành đạo th́ Đức Phật
Thích Ca đến vườn Lộc Uyển ở xứ
Ba La Nại để thuyết pháp cho năm nguời
đệ tử đầu tiên. Đó là các ông Kiều
Trần Như, Ác Bê, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc
Đề. Bài thuyết pháp đầu tiên, Đức
Phật đă thuyết giảng về chân lư Tứ
Diệu Đế để chuyển bánh xe pháp. Sau khi nghe
xong th́ năm vị nầy đều trở thành A La Hán và
họ là năm vị để tử đầu tiên
của Đức Phật. Như thế th́ trước
khi Phật nói Kinh Bát Nhă th́ chân lư Tứ Diệu Đế
chính là cổ xe căn bản không thể rời bỏ
của kẻ tu hành nếu họ muốn đạt
đến bốn thánh quả. Đó là Tu Đà Hoàn, Tư
Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Đây là bốn ngôi vị Thánh mà
được gọi chung là Thanh Văn hay Thanh Văn
thừa. Vậy Tứ Diệu đế gồm có:
1)
Khổ đế là tất
cả những cái khổ trên thế gian nầy mà con
nguời phải gánh chịu. Sống trong trần thế
th́ con người lúc nào cũng có thể đối
diện với những bất hạnh, bất măn và
bất trắc sinh khởi tùy thời và tùy nơi. Nếu
không khổ lúc này th́ cũng khổ lúc khác. Vừa giải
quyết xong vấn đề nầy th́ vấn đề
khác lại xuất hiện. Đôi khi v́ mong cầu hạnh
phúc, con người cố lao tâm lao lực để
đạt cho được tiền tài, của cải,
danh vọng, t́nh yêu…tuy nhiên lúc thành đạt th́ chưa
hẳn đây là hạnh phúc v́ chúng ta phải khổ tâm lo
bảo vệ những ǵ đă đạt được.
Chúng ta lo sợ, mất mát và sẽ đau khổ khi bị
mất nó. Cái mà chúng ta gọi
là hạnh phúc thật ra chỉ là cội nguồn của
sự lo lắng và sợ hăi mà thôi. Ngay cả những
người không tham vọng, tức là sống yên phận
thủ thường cũng không thoát khỏi khổ. Tại
sao? Những
người nầy chỉ cần sống yên thân, có
nghĩa là họ kiềm chế Tham-Sân-Si để lo duy
tŕ cái hạnh phúc đơn sơ v́ họ sợ có sự
thay đổi, khác thường. Nhưng thế gian là vô
thường tức là luật thành, trụ, hoại, không
sẽ không tha một ai cả. Do đó sớm muộn ǵ
th́ họ cũng phải đối diện với khổ
đau.
Nói chung
những hạnh phúc trong trần thế từ thú vui tinh
thần lẫn thể xác thật là mỏng manh và tạm
bợ v́ chúng không phải là chân hạnh phúc hoặc
hạnh phúc trường tồn, vĩnh cửu. V́ sự
đối đăi của thế gian cho nên hạnh phúc luôn
luôn đi đôi với khổ đau. Như thế con
người càng t́m cầu hạnh phúc ở trong cuộc
sống th́ chắc chắn càng mang lại nhiều bất
hạnh khổ đau. Nói một cách khác hạnh phúc là
những ǵ được xây dựng trên khổ đau và
ngay trong ḷng hạnh phúc đă ngầm chứa sẵn
những nhân khổ đau để gây đau thương
tang tóc cho con người.
Trước
hết Khổ về Thân
th́ có:
*Sinh, Lăo, Bệnh và Tử.
C̣n Khổ
về Tâm bao gồm:
*Ái biệt ly khổ: là phải xa ĺa
những người, vật và hoàn cảnh mà chúng ta yêu
thích.
*Oán tắng hội khổ: là phải
ở với những người, vật và nơi
chốn mà chúng ta thù ghét.
*Cầu bất đắc khổ: mong
cầu tiền tài, danh lợi, công danh, phú quư, t́nh yêu…mà không
được.
Nhắc lại trong bài thơ Hai Sắc Hoa
Ti-Gôn của T.T.Kh về cuộc đời của
người con gái bắt đầu từ những
ước mơ xinh đẹp:
Thưở ấy nào tôi đă
hiểu ǵ
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp:”Màu hoa
trắng
Là
chút ḷng trong chẳng biến suy”.
Khi nh́n thấy hoa Ti-gôn có h́nh dáng một trái
tim vỡ th́ đă linh cảm một chung cuộc đau
thương với nhiều nước mắt:
Người ấy thường
hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng:”Hoa giống như tim vỡ
Anh sợ t́nh ta cũng vỡ thôi”.
Nàng có ngờ đâu mối t́nh đầu mà
nàng đang nâng niu ấp ủ trở thành dang dỡ lưu
hận ngàn thu:
Đâu biết lần đi
một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu
đương
Người xa xăm quá tôi buồn lắm
Trong một ngày vui pháo nhuộm
đường.
Nhưng đâu phải giấc mơ nào
cũng thành sự thật, v́ thế nàng mới nghẹn ngào qua suối lệ:
Nếu biết rằng tôi đă
lấy chồng
Trời ơi người ấy có buồn
không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng.
Nhưng không phải lấy chồng giàu sang
phú quư là hạnh phúc đâu v́ h́nh bóng người xưa
đâu dễ ǵ phai nhạt:
Chồng tôi vẫn biết tôi thương
nhớ
Người ấy cho nên vẫn hững
hờ
……….
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn dấu trong tim một bóng
người.
Như thế cuộc đời của
T.T.Kh nếu không phải là chuỗi dài đau khổ th́ là
ǵ? Khi mơ ước là bắt đầu khổ, mơ
ước không thành lại càng khổ hơn. Lấy
người chồng không thương yêu th́ quá khổ
nhưng đă có chồng mà không quên được h́nh bóng
người xưa th́ khổ đến trọn
đời.
Và sau cùng là
khổ cả thân lẫn tâm
tức là ngũ uẩn thạnh khổ. Thân th́ vô
thường c̣n tâm th́ vô ngă cho nên ngũ uẩn biến
đổi quay cuồng làm cho chúng ta vốn đă khổ
nay lại càng thêm khổ đau.
Nhiều
người khi đề cập đến Phật giáo
thường gán cho hai chữ bi quan và yếm thế.
Đạo Phật theo quan niệm của họ chỉ
để dành riêng cho những người già cả và không
thích hợp với tuổi trẻ là lớp tuổi c̣n
hăng say hoạt động. Họ nghĩ rằng
những người theo đạo Phật là những
kẻ chán đời đi t́m sự lăng quên qua câu kinh
tiếng kệ. Phật giáo theo họ biết th́ đâu
đâu cũng thấy toàn cảnh khổ: sanh khổ, bệnh
khổ, già khổ và cho đến chết cũng chưa
hết khổ. V́ quan niệm như thế nên họ lư
luận rằng nếu đầu óc luôn chứa
đựng sự khổ th́ con người sinh ra chán
nản, tiêu cực và làm biếng. Thật ra đạo
Phật có bi quan yếm thế như vậy không?
Dĩ nhiên là không. Đạo Phật là đạo thực
tế và giáo pháp của Đức Phật là môn thần
dược trị bệnh phiền năo cho tất cả
chúng sinh. Chữ Khổ trong phần Khổ đế là
dịch từ chữ DUKKHA
có nghĩa là bất toàn, biến đổi, giả
tạo, trống rỗng, vô nghĩa lư và ngũ uẩn…Do
đó khi nói đến sự khổ, Đức Phật
đă không phủ nhận có nhiều hạnh phúc trong
cuộc sống nầy từ tinh thần và vật
chất. Chẳng hạn như hạnh phúc của
đời sống xuất gia và hạnh phúc của
đời sống gia đ́nh. Nhưng tất cả
những hạnh phúc đó đều nằm trong DUKKHA cả. Ngay đến
sự an vui hạnh phúc ở cơi Trời hay những
cảnh thiền với tâm an lạc, thuần khiết
cũng là DUKKHA. V́ vậy
những ǵ không vững bền, c̣n thay đổi, c̣n thành,
trụ, hoại, không tức là c̣n khổ.
Danh từ
Khổ không phải chỉ để mô tả một
sự đau đớn thân xác hay cảm giác khó chịu
của tinh thần mà c̣n bao gồm tất cả những
ǵ có thể tạo ra đau khổ hay gánh chịu khổ
đau. V́ thế chân lư về Khổ dạy rằng:”V́
nguyên lư vô thường mà tất cả mọi h́nh thức
khoái lạc dù là thiên đường cực lạc cũng
đều bị biến đổi và hủy diệt và
tất cả mọi h́nh thức hiện hữu
đều mang mầm mống bất măn, khổ đau”.
Chính v́ đau khổ nên con người cố nỗ
lực t́m kiếm khoái lạc mà không biết rằng chính
họ sẽ bị khoái lạc lừa đảo phản
bội để rồi càng t́m kiếm khoái lạc con
người càng thất vọng và cứ thế họ ch́m
đắm trong bể trầm luân.
Đứng
trước sự khổ đau của nhân loại, Đức
Phật mới phân tích để t́m ra cái Khổ và cội
nguồn dẫn đến những cảnh Khổ
nầy. Chẳng khác nào vị lương y trước khi
chữa bệnh phải biết rơ căn bệnh. Nói
đến cái Khổ không phải là bi quan, tiêu cực mà
đây chỉ là phương tiện để đạt
đến cứu cánh là hạnh phúc Niết bàn. Thật
vậy sau khi chứng quả Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, tức là thấu hiểu chân lư và chân
tướng của vạn vật trong vũ trụ
nầy th́ Ngài cùng với hàng đệ tử hoạt
động rất tích cực để đem lại
sự an vui cho tất cả mọi người. V́ thế
Đức Phật lại dạy rằng:
”Không thể lường
được đâu là khởi thủy của ṿng luân
hồi và từ đâu chúng sanh bắt đầu kiếp
sống. Có điều chắc chắn là họ đă
bị trầm luân sinh tử v́ vô minh và ái dục”.
Tôn chỉ
của đạo Phật là “chuyển
mê khai ngộ và ly khổ đắc lạc”. Con
người c̣n khổ là v́ họ c̣n chấp thân nầy là
thật Có hay thân nầy là của Ta. V́ sự chấp ngă mê
lầm nầy mà con người phải chịu cái khổ
lớn nhất là quay cuồng trong ṿng sinh tử luân
hồi. Vô minh là cội nguồn của Tham-Sân-Si để
dẫn dắt con người tạo ra nghiệp mà
phải tái sanh để chịu quả khổ. Do đó tu
Phật là để phá vô minh và kiến tạo trí tuệ
để trừ các ác pháp th́ sẽ không c̣n khổ.
Phương
pháp diệt khổ của đạo Phật có rất
nhiều nhưng tựu trung vào ba điểm chính sau
đây:
§ Giữ
không cho những mầm bất thiện phát sinh th́ con
người phải tŕ giới.
§ Diệt
trừ mọi phiền năo ẩn chứa trong tâm th́ chúng
sinh phải dùng Định.
§ Diệt
vô minh v́ vô minh là đầu mối mọi khổ đau
của con người. Phá vô minh th́ phát sinh trí tuệ.
Khi đă thấu hiểu tường tận
Tứ diệu đế th́ chúng ta mới thấy rơ
đạo Phật là một lối sống thực
tế. Đạo đế là lối giải thoát duy
nhất để dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi
những nỗi thống khổ và đến nơi an vui
tự tại. Bát chánh đạo trong phần đạo
đế là chiếc bè rắn chắc vững vàng
đưa con người thoát qua bể khổ, sông mê.
Thực hành bát chánh đạo là tích cực đạt
đến cứu cánh Niết bàn và bẻ găy bánh xe sanh
tử luân hồi. Do đó Phật giáo chính là một kho tàng
linh dược trị tất cả tâm bệnh phiền
năo trầm kha của chúng sanh vậy.
2)
Tập đế là nguyên nhân gây
ra tất cả những cái khổ ở trên. Trong phần tập
đế nầy cũng có mười món. Đó là tham, sân,
si, mạn, nghi, thân kiến, biện kiến, kiến
thủ, giới cấm thủ và tà kiến. Để
dễ dàng nhận thức Đức Phật đă chia
mười món nầy thành hai loại. Tư hoặc th́ gồm có tham, sân, si, mạn, nghi. C̣n Kiến hoặc th́ có thân
kiến, biện kiến, kiến thủ, giới cấm
thủ và tà kiến. Kiến là sự thấy, biết
từ bên ngoài v́ thế kiến hoặc là những cái sai
lầm về mê lư và vọng chấp từ bên ngoài mà
thấm vào trong tâm của chúng ta. Một khi con người
đă thấu suốt chân lư của Phật th́ những mê
lầm nầy sẽ không c̣n nữa. Tư là phần bên
trong tức là tâm tư v́ thế tư hoặc là những
điên đảo mê lầm đă có sẵn trong tâm của
con người. Có con người là có nó, bất cứ
chỗ nào có con người là có tư hoặc. Do đó
tư hoặc đă ăn sâu và núp vào trong tiềm thức
của con người để sai khiến và dẫn
dắt chúng ta vào con đường trầm luân đau
khổ. Vậy tập đế là nhân mà khổ đế
chính là quả của nó trong chiều sanh tử. Mà sanh tử tức là luân hồi.
3)
Diệt đế là Thánh
đạo, là con đường đưa đến
giải thoát giác ngộ và chính thật là Niết Bàn ở
trong trần thế vậy. Một khi chúng sinh đoạn
được mọi phiền năo và tâm trở thành thanh
tịnh th́ họ đă chứng được Niết
Bàn. Nên nhớ đây chỉ là Niết Bàn của hàng Thanh
văn mà thôi. Từ Tu Đà Hoàn đến A Na Hàm th́ có
Hữu dư y Niết Bàn, có nghĩa là sự an vui chưa
hoàn toàn v́ chưa dứt hết phiền năo nên trong sanh
tử mà vẫn được tự tại chớ không
bị rằng buộc như chúng sinh. Đến khi chứng
quả A La Hán th́ mới được Vô dư y Niết
Bàn bởi v́ hàng A La hán đă dập tắt tất cả
ngọn lửa dục vọng nên họ không c̣n phiền
năo khổ đau và cuối cùng thoát ra khỏi tam giới :
Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Khi các
vị Bồ tát đă hiểu rơ:”Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” th́ pháp
tánh b́nh đẳng như như, có nghĩa là họ không
thấy một pháp ǵ cố định, một vật ǵ
chắc thật cả. Tuy làm việc lợi tha mà họ
vẫn ở trong chánh quán. Đó là họ luôn luôn quán
chiếu tư duy vạn pháp như huyễn hóa, không có
thật sanh tử th́ dĩ nhiên không có thật Niết Bàn.
Do đó Bồ tát thường ra vào sanh tử mà lấy
lục độ để độ sanh nên lúc nào cũng ở
trong Niết Bàn. Cái thường trụ Niết Bàn nầy
gọi là Vô Trụ Niết Bàn. Trong chúng ta có cái tự tánh
thường vắng lặng mà thường sáng suốt mà
kinh Phật gọi là Phật tánh, Chơn tâm hay là Như Lai
tạng…Đây chính là thanh tịnh Niết Bàn vậy.
4)
Đạo đế là con
đường để đoạn mọi phiền năo
và dẫn tới Niết Bàn. Đạo đế gốm
có tất cả 37 phẩm trợ đạo là tứ
niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ư túc,
ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi và bát chánh
đạo.
Ø Tứ niệm xứ: là
bốn điều cần ghi nhớ để tư duy
quán chiếu. Đó là quán thân bất tịnh, quán tâm vô
thường, quán pháp vô ngă và quán thọ th́ khổ.
Ø Tứ chánh cần: là bốn
phương pháp dùng trí tuệ để ngăn ngừa
tội ác cũng như sự phát sinh của nó để
cho thân khẩu ư được thanh tịnh. Đó là tinh
tấn ngăn ngừa những tội ác chưa phát sinh,
tinh tấn ngăn ngừa những tội ác đă phát sinh,
tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát
sinh và sau cùng tinh tấn tiếp tục phát triển
những điều lành đă phát sinh.
Ø Tứ như ư túc: là bốn phép thiền định hay là bốn phương tiện giúp chúng ta thành tựu chánh định. Bốn định đó là Dục như ư túc là mong muốn, hướng thượng để được giải thoát ra khỏi biển khổ sanh tử. Tinh tấn là dũng mảnh, bền tâm vững chí. Nhất tâm là tâm phải chuyên nhất vào định cảnh, không bao giờ tán loạn. Quán là dùng trí tuệ sáng suốt để quan sát những pháp ḿnh đang tu.
Ø Ngũ căn: Năm căn nầy là căn bản để phát sinh tất cả thiện pháp. Đó là Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Huệ căn.
Ø Ngũ lực: là năm năng lực vĩ đại, năm thần lực của ngũ căn. Đó là Tín lực, Tấn lực, Niệm lực, Định lực và Huệ lực.

Thất Bồ Đề hay
Thất Giác Chi
(Seven factors of enlightenments)
Là bảy nhánh hay là bảy
phương tiện nhiệm mầu giúp chúng sinh đi
đến chỗ giải thoát giác ngộ.
Ngày xưa
lúc Đức Phật c̣n tại thế, Ngài đang
tịnh tọa tại vườn Trúc Lâm, thành Vương
Xá nhờ dùng thiên nhăn thông mà biết tôn giả Đại
Ca Diếp lúc ấy đang lâm bệnh tại động
Pipphali. Ngài liền đi đến chỗ tôn giả đang
tĩnh dưỡng. Sau khi an tọa, Ngài dạy rằng:
- Này Đại Ca Diếp! sức
khỏe ông như thế nào? Cơn đau có trầm
trọng lắm không? Bệnh t́nh của ông đang phát tác
hay đă thuyên giảm? Biến chứng thuận lợi hay
bất lợi?
- Bạch Đức Thế Tôn!
Cơn đau rất trầm trọng, biến chứng càng
ngày càng nguy hiểm, không thuận lợi.
- Này Đại Ca Diếp!
điều mà Như Lai đă giác ngộ, đă tu chứng
và đă phát triển tṛn đủ là Thất Giác Chi. Đó
là con đường dẫn đến thượng trí,
viên minh và Niết Bàn. Thật vậy, nầy Đại Ca
Diếp! đó là bảy nhân sinh trí tuệ mà Như Lai
đă giác ngộ, tu chứng, phát triển tṛn đủ,
con đường dẫn đến thượng trí viên
minh Niết Bàn.
Vậy
thất giác chi là ǵ mà có sức mạnh như thế?
1)Niệm giác chi (Satti
sambojjhanga) (Mindfulness): có công năng tiêu diệt tà
niệm và vọng tâm. Tà niệm là một trở ngại
lớn lao đối với sáng kiến cải tạo
của con người làm cho tiến tŕnh giải thoát
bị thoái hóa. Loại bỏ tà niệm th́ chánh niệm phát
khởi để giúp chúng ta thấu rơ chân tướng vô
thường, khổ năo và vô ngă của vạn hữu trong
vũ trụ.
2)Trạch Pháp giác chi
(Dhammavicaya Sambo-jjahanga) (Investigation): là phân tích, suy
luận các pháp để biết đâu là chân và đâu là giả.
Ngay cả những lời dạy của Đức
Phật, Ngài cũng không bắt buộc hàng tứ chúng tin
theo một cách mù quáng mà phải t́m hiểu xem giáo lư đó
có thật sự đem lại hạnh phúc và giải thoát cho
con người đúng theo tiêu chuẩn và cứu cánh
của đạo Phật hay không? Chỉ có Phật giáo
mới có thái độ phân tích khách quan và sáng suốt
như thế. Nếu con người tin tưởng tôn
giáo một cách mù quáng th́ chỉ làm cho đời sống tinh
thần của họ càng thêm mê muội và thoái hóa. V́
thế nếu muốn đạt đến Chánh tư duy th́ phải rèn
luyện tu tập pháp môn nầy. Nên suy tư quán chiếu về ngũ
uẩn giai không để không c̣n chấp ngă tức là
nghĩ rằng thân nầy là thật Có th́ thân tâm mới an
lạc. nên gần gủi với bậc thiện tri
thức và dĩ nhiên tránh xa kẻ ác tri thức.
3)Tinh tấn giác chi (Viriya
Sambojjhanga) (Effort/Energy): Mặc dù giáo lư của Đức
Phật là giải thoát giác ngộ, nhưng muốn đạt
đến tŕnh độ tối thượng nầy đ̣i hỏi con người phải nổ
lực, kiên tŕ để vượt
qua mọi thử thách. V́ thế tinh tấn là điều
kiện tối cần để thực hiện lư tưởng giải thoát giác
ngộ nầy. Giáo lư của đạo Phật đ̣i
hỏi rất nhiều cố gắng, hy sinh và kiên nhẫn
để chống lại phiền năo khổ đau.
Nếu thiếu tinh tấn th́ không thể nào dẹp tan
được
giặc phiền năo và dĩ nhiên khổ đau sẽ
gắn liền với chúng ta đời đời
kiếp kiếp. Ngày xưa
khi Đức Phật tịnh tọa dưới cội Bồ-đề
th́ Ngài thề rằng:
“Nếu ta ngồi đây mà không
chứng được đạo quả,
th́ dù thịt nát xương tan, ta quyết
không bao giờ đứng dậy”.
V́ tinh
tấn như thế mà Ngài thành đạo.
Ngày nay chúng
ta nên noi gương Đức Phật mà quyết tâm
rằng:”Không có ǵ có thể cản trở bước tiến của ta,
không khổ đau nào c̣ thể làm ta ngă ḷng, thối chí và ta
sẽ kiên tŕ tiến tới cho đến khi nào hoàn thành
sứ mạng”.
4)Hỷ giác chi (Piti sambojjhanga)
(Joy):
Trong thế gian nầy không có một cố gắng hay hành
động nào lâu bền mà không t́m thấy hứng thú trong
việc làm của ḿnh. Việc tu học Phật th́ cũng
thế, càng tinh tấn nổ lực th́ kết quả càng
mỹ măn v́ vậy hoan hỷ là một yếu tố giúp
cho con người phấn khởi trên đường tu
đạo khó khăn để dẫn đến cứu
cánh sau cùng là giải thoát. Khi đi sâu vào thiền
định th́ Tam thiền, có nghĩa là Ly hỷ diệu
lạc có công năng đối trị với sân hận,
bất măn khiến cho tâm được mát mẻ và vui
thích trong đối tượng thiền định.
5)Khinh an giác chi (Passaddhi
sambojjhanga) (tranquility): là nhẹ nhàng và an tịnh. Khinh an
có nhiệm vụ hóa giải lửa phiền năo để
tâm không c̣n giao động. Người có tâm khinh an sẽ
cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng thư thái như khách
viễn hành trút bỏ được gánh nặng, nhờ thế
họ có thể thong thả đi tới đích mà không
gặp chướng ngại nào.
6)Định giác chi (Samadhi
sambojjhanga) (Concentration): Nếu cái kính hiển vi rung
động, không đứng yên một chỗ th́ ánh sáng
mặt trời không thể tụ lại một
điểm trên tờ giấy th́ tờ giấy không
thể nào bốc cháy được. Con người th́
cũng thế, nếu tâm chúng ta bị giao động th́
vọng tưởng tha hồ sanh khởi tức là tâm không
thể tập trung và an
trú trên một đối
tượng nào. Do đó khi tâm đă định sẽ giúp
chúng ta thấy rơ được bản chất chân
thật của đối tượng trong thế gian
nầy. Có người dùng định để phát triển
thần thông, nhà thôi miên dùng định để chữa
bệnh hay sai khiến kẻ khác làm theo ư họ. C̣n
Phật giáo chỉ dùng định để phát triển
trí tuệ v́ trí tuệ là điều kiện tối
hậu để đạt đến lư tưởng
giải thoát giác ngộ.
7)Xả giác chi (Upekkha
sambojjhanga) (Equanimity): là tâm không bị chi phối bởi
ngoại cảnh. Nghịch cảnh không bất b́nh và
thuận cảnh không tham ái. Họ thản nhiên
trước lời tán dương hay phỉ báng. Dù lợi
lộc hay mất mát, dù được địa vị
hay không có danh vọng và dù vui hay khổ th́ họ vẫn
thản nhiên, tự tại. Tư tưởng Khổng
Mạnh cũng khuyên con người dè dặt về sự
khen chê trong nhân thế cho nên ngài Tuân Tử có nói rằng:
“Người
khen ta mà khen đúng là bạn ta,
Kẻ
chê ta mà chê đúng là thầy ta.
C̣n
kẻ nịnh ta là cừu địch của ta vậy”.
Kinh
Phật có câu chuyện đại vương Maghadeva,
người dám từ bỏ ngai vàng giữa lúc c̣n xuân
trẻ để đổi lấy cuộc sống ẩn
dật và tu tập. Rất nhiều dân chúng trong thành v́
mến hành động cao cả của nhà vua nên quyết
định bỏ nhà mà vào rừng tu tập với nhà vua.
Sau thời gian tu tập thiền định dưới
sự hướng dẫn của nhà vua, dân chúng chứng
đắc quả vị Phạm Trú và tái sinh vào cơi
trời Sắc giới.
Vị vua ấy tức là tiền thân của Đức
Phật Thích Ca vậy. Thật vậy con người càng có
khả năng từ bỏ th́ càng có khả năng tu
tập. Khả năng tử bỏ càng nhiều th́ sự
tu tập và hiểu biết của con người càng sâu
sắc hơn và do đó, sự chứng ngộ sẽ càng
triệt để và nhanh chóng hơn. Một khi giữ
được tam xả th́ phán đoán sẽ vô cùng sáng
suốt và không c̣n chủ quan thiên lệch nữa.
Khi nghe xong,
tôn giả Đại Ca Diếp hết sức hoan hỷ và
nhờ vậy cơn bệnh trầm trọng bổng nhiên
tan biến. Làm sao tôn giả Đại Ca Diếp có thể b́nh
phục chỉ v́ nghe được đoạn kinh trên?
Nên nhớ Đức Phật chính là y vương v́ với
tâm đại hùng, đại lực và đại từ bi
đă dùng một chân lư siêu việt để an định
tâm thần cho tôn giả. Thêm vào đó chính tôn giả đă
lắng nghe với tâm tôn kính, trong sạch và sáng suốt th́
dĩ nhiên kết quả rất mầu nhiệm vô lường.
Tóm lại,
nếu con người tu chứng và phát triển
đầy đủ thất giác chi th́ đây là con
đường dẫn họ đến thượng trí,
viên minh và chứng ngộ Niết bàn.

“Pháp môn mà chúng ta tu học là Pháp Vô Thượng, là Pháp chẳng có h́nh tướng ǵ, bởi v́ nó là Pháp ở trong tâm”.

(The Nobble Eightfold
Path)
Là tám con
đường ngay thẳng để giúp chúng sinh
đến đời sống chí diệu và cũng là tám con
đường mầu nhiệm để đưa chúng
sinh đến địa vị Thánh. Bát chánh đạo
gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và
cuối cùng là chánh định. Đức Phật Thích Ca
đă nói Bát chánh đạo như thế nào th́ tam thế
Phật cũng nói Bát chánh đạo như thế ấy,
có nghĩa là Phật trong quá khứ và những vị
Phật trong tương lai cũng nói Bát chánh đạo
cũng y như thế v́ nó là chân lư. Chữ “chánh” trong bát chánh đạo
có nghĩa là đúng.

1)
Chánh kiến (Right
view): là thấy biết một cách công minh ngay thẳng
tức là thấy biết đúng. Khi chúng sinh thấy
biết mọi việc và mọi vật đúng th́ bao nhiêu
chấp ngă mê lầm sẽ không c̣n trong tâm của họ
nữa. Sự thấy biết đúng nầy chính là phương
cách duy nhất để bắt đầu tận diệt
mọi kiến hoặc và cũng là bước
đường căn bản để chuẩn bị
tiêu trừ mọi tư hoặc sau nầy. V́ thế Phật
mới đưa chánh kiến ra trước là như
vậy. Tuy cứu cánh của đạo Phật là giải
thoát giác ngộ, nhưng triết lư của đạo
Phật luôn luôn gắn liền với cuộc sống
của thế gian nầy. Trước hết Phật
dạy con người phải có cái nh́n đúng về ḿnh
và tất cả vạn vật chung quanh ta. Mà cái đúng, cái
chân thật th́ nhà Phật gọi là “như thị”. Thấy biết đúng có nghĩa
là vạn vật như thế nào th́ ḿnh thấy biết
như thế ấy. Thí dụ như sợi dây là sợi
dây chớ đừng thấy mê lầm mà cho là con rắn.
Cũng như tấm gương vậy nếu gặp
người th́ rọi bóng y như người, c̣n gặp
trăng th́ rọi bóng y như mặt trăng. V́ sự
thấy biết đúng của Đức Phật nên
mới có câu:”Như thị văn, như
thị tri”, có nghĩa là việc đời và
thế giới như thế nào th́ phải thấy
biết như thế đó, tức là Đức Phật
không giải thích theo óc tưởng tượng của Ngài
để gán cho sự vật những ư nghĩa hay giá
trị mà tự chúng không có. Nói một cách khác là
đừng tô son thép vàng, đừng lên án, đừng b́nh
phẩm mà phải thấy thấu triệt cái Thực
tướng của vạn vật. Con người v́ vô minh
che lấp nên khó thấy biết đúng. Vật thể
vũ trụ th́ vô t́nh mà con người gán ép cho chúng
những danh từ hoa mỹ. Chẳng hạn như
đồi thông buồn ảm đạm hay mặt
nước hồ thu sầu man mác. Đồi thông đâu
có biết buồn và mặt nước làm ǵ biết
sầu man mác. Do đó muốn thấy biết đúng th́
đừng cộng thêm ngă kiến vào. Thấy sao biết
vậy th́ không sanh vọng tâm. Có thấy biết đúng
mới suy tư đúng rồi phát lời nói đúng và sau
cùng là hành động đúng. Như thế Chánh kiến là
nền móng vững chắc để xây căn nhà Bát chánh
đạo. Không có căn nhà Bát chánh đạo nào bền
vững nếu người tu không dụng tâm thực hành
thâm sâu hằng ngày Chánh Kiến để giúp chúng ta
thấy biết đúng. Có thấy biết đúng th́
mới thực hành thâm sâu câu:”Vạn pháp giai không, duyên sanh
như huyễn” để thân, khẩu, ư
được thanh tịnh. Thêm nữa, chúng ta đang
sống trong một thế giới tương đối,
có nghĩa là cái nầy
tương trợ cho cái kia. Nói một cách khác là
nếu muốn thấy biết đúng th́ chúng ta phải
thấy biết đâu là tà kiến. Càng thấy biết
nhiều tà kiến tức là chúng ta đă thấy biết
nhiều chánh kiến vậy. Chẳng hạn như
triết lư căn bản của Phật giáo là nhân quả
mà chúng ta cứ tin vào xin xăm, bói quẻ hay coi sao cúng
hạn th́ chúng ta đang đi trên con đường tà
kiến. Ḿnh gây nhân mà muốn người khác thay quả th́ có
được không? Không làm lành, bố thí mà
muốn hưởng phước th́ có thành tựu không? Không
tu luyện mà muốn thành Phật có được không? Nếu có ai xưng ḿnh là Bồ
tát nầy hay là Quán Thế âm nọ th́ đây chắc
chắn là tà kiến. Bồ tát hay A La Hán thị hiện
trong thế gian nầy rất nhiều nhưng không bao
giờ họ tiết lộ tung tích của họ cả. Tại
v́ sao? Bậc Thánh làm việc
v́ lợi cho nguời, tức là lợi ích cho chúng sanh mà
không quan tâm ǵ đến họ. Họ tự nguyện vào
đời để cứu giúp chúng sinh rồi ra đi.
C̣n phàm nhân th́ làm việc v́ tư lợi và danh lợi cho
ḿnh chớ không phải công ích cho người.
Khi
Đức Phật c̣n tại thế, một hôm Ngài hỏi
các thầy Tỳ kheo rằng:
-Mạng
người sống được bao lâu?
-Bạch Thế Tôn! Mạng
người sống được mười năm.
Phật
bảo:
-Ông chưa
thấy đạo.
Thầy
tỳ kheo khác thưa:
-Mạng
người sống được một năm.
Phật
lắc đầu nói:
-Ông cũng
chưa thấy đạo.
Cứ
thế các thầy Tỳ kheo thay nhau trả lời mạng
người sống trong ba tháng, một tháng đến
một ngày…sau cùng vị Tỳ kheo chót đứng dậy
bạch với Phật rằng:
-Bạch
Thế Tôn! Mạng người sống trong hơi thở
mà thôi.
Phật
gật đầu khen:
-Ông đă
thấy đạo.
Phật nói
đạo ở đây là chân lư bởi v́ con người mà
không c̣n hơi thở th́ mất mạng. Thấy
được mạng sống con người là mông lung,
là tạm bợ mà nhà Phật gọi là giả Có th́ chúng ta
đă thấy biết đúng, tức là chánh tri chánh
kiến vậy.
Nói chung
con người có năm tà kiến cần được
chú ư. Đó là:
o Thân kiến là si mê lầm
tưởng cho là thân ta và những vật của ta là
thật Có.
o Biện kiến là khi đă
cố chấp thân ta và vật của ta là thật Có th́
những người nầy chắc chắn sẽ thiên
về: thứ nhất theo chủ nghĩa thân ta chết là
hết , là đoạn diệt, tức là Vô hoặc theo
chủ nghĩa thân ta chết mà vẫn c̣n, không mất,
không thay đổi, có nghĩa thân ta là thường
trụ, là Hữu.
o Kiến thủ kiến là
học theo những ư kiến chủ nghĩa tà thuyết,
kém cỏi, hẹp ḥi của tà đạo mà họ cho là
mầu nhiệm.
o Giới thủ kiến là
học theo những giới luật nhảm nhí của
bọn tà ma để cầu sinh lên trời…
o Tà kiến là tin theo những
lư luận hay đạo giáo sai lầm cho rằng
đời người không có nhân quả và cũng không có
thiện ác báo ứng chi cả.
Chính năm
tà kiến nầy làm cho con người tối tăm mù
quáng và đắm ch́m trong vẫn đục. Tuy nhiên tà
kiến là những đối tượng sâu sắc giúp
chúng ta có thể nhận chân đâu là Chánh Kiến
để làm nền tảng cho tiến tŕnh tu học Bát
Chánh đạo cho được viên măn.
2)
Chánh tư duy (Right Thought): là suy nghĩ, xét
nghiệm cho đúng. Sau khi chúng ta thấy biết đúng
th́ bây giờ Phật dạy chúng ta hăy suy tư, nghiền
ngẫm những chân lư của Phật.Ư Phật muốn nói
là đừng tin những ǵ Phật nói mà hăy suy nghĩ chín
chắn để t́m ra lẽ thật của nó th́ lúc
đó chúng ta tin cũng chưa muộn. Nói một cách khác
tư duy là ôn lại những đạo lư nhiệm mầu
của Phật pháp. Khi chính ḿnh suy nghĩ đúng th́ tâm không
c̣n quây cuồng điên đảo v́ thế đây là con
đường đưa đến tâm thanh tịnh.
Chẳng hạn như khi chúng ta nghe pháp hay đọc kinh
mà không suy nghĩ lại th́ đạo tâm của ḿnh c̣n
rất yếu bởi v́ nếu không suy nghiệm lại th́
làm sao chúng ta biết được triết lư ấy
nhiệm mầu đến mức nào. Một khía cạnh
rất thực tế khác về chánh tư duy là chúng ta
phải đối chiếu hay so sánh những chân lư vừa
học được vào trong cuộc sống hằng ngày.
Ngay cả chân lư của Phật cũng vậy, có đem nó
ra suy nghĩ, áp dụng, thực hành vào trong cuộc
sống th́ mới được thấy ánh sáng của
chân lư. Bởi vậy Kinh Phật mới có câu:”Đại
nghi mới đại ngộ”. Chẳng hạn
như kinh dạy “quán pháp vô thường”, có nghĩa là
tất cả mọi vật trên thế gian nầy
đều biến đổi theo luật thành, trụ,
diệt, không. Do đó khi chúng ta suy nghĩ kỷ lời
Phật dạy th́ thấy điều nầy là đúng.
Đó là chánh tư duy vậy. Muốn thấy
được sự tiến bộ trong khi học Phật
là chúng sinh phải biết suy tư. Đây là phần
bắt đầu của Thiền định. Thiền
ở đây không phải là ngồi kiết già mà phải
biết suy tư quán chiếu lời Phật dạy
để thấy cái chân lư của nó. Muốn đi sâu vào
trong thiền định th́ phải bắt đầu
bằng tư duy. Thí dụ như khi học Kinh Kim Cang,
Phật dạy:” Thật
tướng vô tướng”.
Nếu chúng ta chỉ đọc suông th́ đâu nghĩ
ra cái vô tướng của vạn vật như thế nào
v́ nó không có h́nh tướng. Nhưng nếu chúng ta đem
câu nầy ra suy nghĩ thật kỷ th́ thấy rằng
mọi vật thể là do nhân duyên kết thành. Mà đă là
do nhân duyên th́ nó không chắc thật, tức là không có
tự tánh, v́ thế nó sẽ biến đổi theo
luật vô thường là thành, trụ, hoại, không. C̣n cái
tướng thật th́ ngũ quan không thấy biết,
tiềm ẩn bên trong mà nhà Phật gọi là vô
tướng. Do đó vô tướng là Thể của
vật chất tức là Không mới thật sự là
tướng thật của vạn vật. Do đó tư
duy là dùng đối tượng để suy nghĩ hay quán
chiếu cho đúng. Không suy nghĩ tà bậy th́ tâm không sanh
vọng tưởng. Tam vô lậu học là Giới-Định-Tuệ
mà chánh tư duy là ch́a khóa để mở cánh cửa
giới định tuệ nầy. Hằng ngày chúng ta
dụng tâm suy nghĩ biết bao chuyện thăng trầm
của cuộc sống th́ chánh tư duy sẽ giúp chúng ta
nh́n thấy rơ ràng việc nào là thiện và bất thiện
để vun bồi cho cuộc sống thêm an vui tự
tại. Không chạy theo tham dục của cuộc
đời trước hết phải có cái thấy biết
và cái suy nghĩ đúng dựa theo triết lư vô ngă vị
tha của nhà Phật. Nên nhớ chánh tư duy không phải
là thích tư duy, bởi v́ chánh tư duy là suy nghĩ về
đạo lư, về việc thiện để thanh
lọc và giữ tâm được thanh tịnh c̣n thích
tư duy là muốn suy nghĩ nhiều về thế gian
pháp. Đây là con đường dẫn đến
phiền năo. V́ thế khi suy nghĩ mà làm cho tâm chúng ta
lặng lẽ an vui tức là tư duy đúng, c̣n suy
nghĩ mà làm cho tâm thêm tức giận tức là tư duy sai
chỉ tạo thêm phiền năo, khổ đau mà thôi.
Trong tam huệ học là văn,
tư, tu th́ tư duy là một pháp môn giúp con người
rèn luyện trí tuệ của họ cho chân chánh. Có suy
nghĩ chân chánh th́ tri kiến mới chân chánh và dĩ nhiên
lời nói và hành động mới chân chánh. V́ thế chánh
tư duy giữ một vai tṛ tối quan trọng
để giúp chúng sinh đến chỗ giải thoát giác
ngộ.
Con
người sống trong thế gian nầy phải gánh
chịu đau khổ chất chồng cũng v́ chúng ta
chạy theo vọng tưởng, có nghĩa là suy nghĩ
không đúng. V́ thế chánh tư duy, tức là dùng tư tưởng
chân chánh để đánh đổ mọi si mê của
vọng tưởng
như:
- Đánh đổ tư tưởng về dục lạc: hằng ngày những tư tưởng về dục lạc như tài, sắc, danh, lợi dính liền với sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp làm cho tâm chúng ta điên đảo. Bây giờ chánh tư duy giúp chúng ta suy nghĩ đến tính vô thường, tạm bợ, mau tan ră của tất cả các pháp thế gian. Chúng ta suy nghĩ lại lời Đức Phật ví sự tan hợp của pháp thế gian như là giấc mộng, như tṛ huyễn hóa, như bọt nước, như ảo ảnh, như sương mai, như ánh chớp trên không mà thôi. Khi suy nghĩ như thế th́ dần dần chúng ta tách ra khỏi sự trói buộc của dục lạc thế gian và cuộc sống sẽ trở thành an vui tự tại. V́ thế một triết gia Tây phương có câu:”Muốn có được những hạnh phúc cao thư